CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ung Chu. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Ung Chu. Hiển thị tất cả bài đăng

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO 冬蟲夏草 – Ung Chu, theo Hán-Việt Thông Dụng



"Đông trùng hạ thảo" 冬蟲夏草 là tên loại thảo dược có bản chất là nấm kí sinh trên sâu. Vào mùa đông, nấm này xâm nhập cơ thể sâu và làm sâu chết, lúc này nấm phát triển bên trong sâu nên ta vẫn thấy hình dạng sâu. Đến mùa hè, nấm bắt đầu phát triển khỏi xác sâu và vươn lên trên mặt đất, trông như một loại cỏ cây (thực vật).
- đông : mùa đông
- trùng : sâu bọ
- hạ : mùa hè, "hè" là âm Hán-Việt cổ xưa của nó (theo phiên thiết mang vần "myà → mè > ma" )
- thảo : cỏ, thảo mộc, chữ này mang bộ "thảo"  (cỏ cây) và kía âm bằng chữ "tảo" . Chữ "thảo"  nguyên bản là chữ tượng hình vẽ cỏ.

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

PHÙ LƯU 芙畱, TRẦU (GIẦU, BLẦU...) - Ung Chu



Tìm về các làng cổ của người Việt ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ là một cách hay để nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Hán và chữ Nôm. Hình thái tiếng Việt được ghi nhận trong thế kỉ 17 bởi người phương Tây là tiếng Việt trung đại, trực tiếp phân hoá thành các phương ngữ hiện đại. Trước đó vài trăm năm, tiếng Việt cổ có nhiều khác biệt với thời nay mà ta cần sự trợ giúp của các ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm để có thể phục dựng.
--
Phường Đông Ngàn tại thành phố Từ Sơn (tính đến tháng 6/2025), tỉnh Bắc Ninh có khu phố Phù Lưu vốn là làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu. Trung tâm làng là chợ Giầu ngày xưa nổi tiếng buôn bán mặt hàng trầu cau (giầu cau).

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

THẬM XƯNG 甚稱 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng



HYPERBOLE - OVERSTATEMENT - EXAGGERATION - AUXESIS - NGOA DỤ - NÓI QUÁ - PHÓNG ĐẠI - KHOA TRƯƠNG - CƯỜNG ĐIỆU HOÁ - THẬM XƯNG

"Thậm xưng" 甚稱 là một trong những từ người Việt dùng để chỉ phép tu từ nói quá. Một cách khác là "ngoa dụ" .
- thậm : rất, lắm, quá mức, như trong "thậm tệ", trước đây người Việt từng dùng "thậm" làm phó từ chỉ mức độ

- xưng : gọi, xưng hô, nói
- ngoa : không đúng sự thật, như trong "nói ngoa", "điêu ngoa", chữ này mang bộ "ngôn" (nói, lời nói) và kí âm bằng chữ "hoá"
- dụ : nói ví von (chứ không nói theo đúng nghĩa đen), như trong "phúng dụ", "ẩn dụ", "hoán dụ", chữ này mang bộ "khẩu" (miệng) và kí âm bằng chữ "du" .

"Con muỗi to như con voi", "tát biển Đông cũng cạn", "nghĩ nát óc"... là các ví dụ về nói quá, ngoa dụ, thậm xưng. 
Phép tu từ này còn được gọi là "khoa trương" 誇張 theo cách gọi trong các ngôn ngữ khác tại vùng văn hoá Hán tự, "khoa" nghĩa là khoe khoang, khoác lác (nói quá mức sự thật), "trương" nghĩa là khuếch đại. Tiếng Nhật đọc là "ko-chō" こちょう, tiếng Hàn đọc là "gwa-jang" 과장. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là .

"Khoác" là âm Việt hoá của chữ "khoách / khuếch" nghĩa là khuếch đại, khuếch trương. Phép nói quá còn được gọi là "phóng đại" 放大 nghĩa là làm cho to lớn ra. Cách gọi khác là "cường điệu hoá" 強調化 hay "cường điệu" 強調 nghĩa là nhấn mạnh (trong ngữ cảnh này là nhấn mạnh do nói quá).

Sách "Việt-Nam văn-phạm" (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ viết:
- Cách ngoa-ngữ là cách đem việc tuyệt-nhiên không bao giờ có, mà nói để biểu-diễn một cách rất mạnh cái ý nói không có, không được:

Bao giờ rau diếp làm đình,
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta. 
                                    (Ca-dao)

Rau diếp là thứ rau dùng để ăn ghém, mà gỗ lim là thứ gỗ tốt dùng để làm nhà, làm đình. Nhưng đây lại nói trái đi để tỏ ý không bao giờ được.
- Cách thậm-xưng là cách dùng tiếng nói quá hẳn sự thực, để làm cho tôn cái ý người ta định nói về một vật gì:

Chìm đáy nước cá lừ-đừ lặn,
Lửng da trời nhạn ngẩn-ngơ sa. 
                                (Cung-oán)

Ý khen cái đẹp đến nỗi cá trông thấy cũng không bơi được nữa, phải lừ-đừ lặn xuống đáy sông; chim trông thấy cũng không bay được nữa, phải ngẩn-ngơ sa xuống đất.
                                                                                Ung Chu
                                                                        Hán-Việt Thông Dụng

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

CỦ MẬT 糾密 - Ung Chu, Theo Hán-Việt Thông Dụng



Tháng Chạp trước Tết còn được người Việt từ xưa gọi là tháng củ mật. "Việt-Nam tự-điển" (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức ghi:
- Củ-mật. Nói về độ gần tết hay có trộm cướp, nhà nào cũng phải giữ-gìn cẩn-thận: Tháng củ-mật.

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

CHỮ TÁC 作 ĐÁNH THÀNH CHỮ TỘ 祚 - Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng

 

Người Việt có thành ngữ "chữ tác đánh chữ tộ", hoặc có thêm một vế nữa là "chữ ngộ đánh chữ quá", dùng để nói về việc yếu kém chữ nghĩa, không đọc thông viết thạo, nhầm chữ này với chữ nọ. Vậy chữ "tác" và chữ "tộ", chữ "ngộ" và chữ "quá" là những chữ gì mà có thể nhầm lẫn?
- tác : nghĩa là làm, làm ra, tạo ra, như trong "sáng tác", "thao tác", "tác nghiệp", "tác giả", chữ này mang bộ "nhân"  (người)
- tộ : nghĩa là phúc lành, vận nước, như trong "quốc tộ", chữ này mang bộ "thị / kì"  () gắn với các chữ về tế lễ (祭禮), thần linh, như trong chữ "phúc" , "lộc" 祿, "tổ" ...
- ngộ : nghĩa là gặp gỡ, mắc phải, như trong "hội ngộ", "tái ngộ", chữ này mang bộ "sước"  (dùng cho các chữ liên quan việc di chuyển) và kí âm bằng chữ "ngu" 
- quá : nghĩa là trải qua, vượt qua, vượt quá, như trong "thái quá", "quá giang", chữ này mang bộ "sước"  và kí âm bằng chữ "oa / qua" .

Chủ Nhật, 4 tháng 1, 2026

HÀI ĐỒNG 孩童 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng



"Hài đồng" 孩童 trong Hán ngữ là một cách để chỉ trẻ nhỏ.
- hài : trẻ con, như trong "hài nhi", "hài tử", chữ này mang bộ "tử"  (con) và kí âm bằng chữ "hợi"  ("hợi" là âm Hán-Việt từ xưa còn bảo lưu đến nay, nếu phiên thiết lại lần nữa sẽ được âm "hãi")
- đồng : đứa trẻ, đứa nhỏ, như trong "nhi đồng", "đồng thoại".
Trong Ki-tô giáo, Chúa Hài Đồng hay Giêsu Hài Đồng là khái niệm chỉ đấng Giê-su Ki-ri-xi-tô (Giêsu Kitô) thời còn là trẻ nhỏ. Theo quan niệm Chúa Ba Ngôi - "Tam Vị Nhất Thể" 三位一體 thì chúa Giêsu là Chúa Ngôi Hai, tức là Chúa Con, mang hình hài của con người và trải qua các giai đoạn từ thơ ấu đến trưởng thành. Ngày ra đời của Chúa Hài Đồng được thống nhất kỉ niệm vào dịp lễ Giáng sinh hằng năm, vào ngày 25/12 của Tây lịch.

Thứ Bảy, 22 tháng 11, 2025

ĐẠI HỒNG THỦY 大洪水 – Ung Chu



- đại : to, lớn
- hồng : lũ, lụt (nước lớn gây ngập), chuyển nghĩa thành tính từ nghĩa là to lớn, dùng thông với chữ "hồng" 
- thuỷ : nước.

Lụt cũng được gọi là "hồng thuỷ" 洪水 / 鴻水 nghĩa đen là nước lớn. "Đại hồng thuỷ" 大洪水 nghĩa là lũ lụt lớn. Tiếng Nhật đọc là "dai-kō-zui" だいこうずい, tiếng Hàn đọc là "dae-hong-su" 대홍수.

Nhiều cộng đồng trên thế giới cùng có truyền thuyết về đại hồng thuỷ, kể về trận lụt cực lớn trong quá khứ xa xôi nhấn chìm khắp nơi. Dạng thảm hoạ trong truyền thuyết này của các cộng đồng lớn trên thế giới (vùng Lưỡng Hà, vùng Ấn Độ, vùng Trung Hoa, vùng Do Thái...) thường gắn với những đấng siêu nhiên.
                                                                                             Ung Chu

Thứ Sáu, 7 tháng 11, 2025

KHAI CĂN 開根 – Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng, Thuật ngữ Toán học

 

EXTRACT - KHAI CĂN
EXTRACTION - PHÉP KHAI CĂN

Phép khai căn là phép toán ngược lại với phép nâng lên luỹ thừa, hành động thực hiện phép khai căn để tìm căn gọi là "khai căn" 開根.
- khai : mở, xẻ, phân tách, phân li, như trong "li khai", "khai trừ", "extract" tiếng Anh nghĩa là phân tách, chiết xuất, trích li

- căn : gốc rễ, thuật ngữ toán học này trong các ngôn ngữ đều xuất phát từ nghĩa đen là gốc rễ, như "root" tiếng Anh, "racine" tiếng Pháp, "Wurzel" tiếng Đức... "Radical" tiếng Anh có gốc Latin "radix" nghĩa là gốc rễ. Tiếng Nhật đọc là "kon" こん, tiếng Hàn đọc là "geun" .

"Khai căn" 開根 là từ ta mượn tiếng Trung Quốc (giản thể: 开根). Khai căn bậc hai (ngược với bình phương) được gọi là "khai phương" 開方 (giản thể: 开方). Tiếng Trung Quốc gọi căn bậc hai (tiếng Anh: squareroot) là "bình phương căn" 平方根. "Bình phương" 平方 nghĩa đen là hình vuông phẳng, cũng như "square" tiếng Anh, diện tích hình vuông là bình phương độ dài cạnh.
                                                                                  
                                                                                  Ung Chu
                                                                        Hán-Việt Thông Dụng
                                                                       #Thuật_ngữ_Toán_học

Thứ Tư, 5 tháng 11, 2025

THỊNH NỘ 盛怒 - Ung Chu




- thịnh : đầy, nhiều, lớn, rất, như trong "thịnh vượng", "thịnh soạn"
- nộ : giận dữ, lòng cáu tức, như trong "cuồng nộ", "phẫn nộ".
"Thịnh nộ" 盛怒 ý nói rất giận dữ, cơn giận lớn, ta thường nói là "cơn thịnh nộ".

                                                                                                            Ung Chu

Thứ Ba, 4 tháng 11, 2025

CHƯ THÁNH 諸聖 – Ung Chu



Lễ Chư Thánh hay lễ Các Thánh (lễ Các Thánh Nam Nữ) của Ki-tô giáo diễn ra vào ngày 1/11 hằng năm. Đây là ngày lễ trọng đại nhằm tôn vinh và tưởng niệm tất cả các Thánh (nam và nữ) trên thiên đàng, dù là được lưu danh hay vô danh.
"Chư" nghĩa là các (), như trong "chư vị", "chư hầu". Tiếng Trung Quốc gọi lễ Chư Thánh là "Chư Thánh tiết" 諸聖節 (giản thể: 诸圣节). Một cách gọi cũ là "Vạn Thánh tiết" 萬聖節, tiếng Nhật đọc là "Ban-sei-setsu" 万聖節 (ばんせいせつ), tiếng Hàn đọc là "Man-seong-jeol" 만성절, nhưng tiếng Trung Quốc ngày nay thường dùng để gọi ngày Halloween vào ngày 31/10 (giản thể: 万圣).
Tiếng Nhật gọi lễ này là "Sho-sei-jin no hi" 諸聖人の日 (しょせいじんのひ), "Shoseijin" しょせいじん là âm Hán-Nhật của "Chư Thánh nhân" 諸聖人, "hi" nghĩa là ngày. Tiếng Hàn gọi là "Mo-deun Seong-in dae-chuk-il" 모든 성인 대축일 (phát âm thực tế: Modeun Seong'in daechugil), "modeun" 모든 là tất cả, "Seongin" 성인 là âm Hán-Hàn của "Thánh nhân" 聖人, "daechugil" 대축일 là âm Hán-Hàn của "đại chúc nhật" 大祝日 nghĩa là ngày lễ lớn.
Tiếng Anh gọi là "All Saints' Day", "All Hallows' Day", "Solemnity of All Saints"... Tiếng Latin gọi là "Sollemnitas Omnium Sanctorum". Halloween là một lễ hội truyền thống được cử hành bởi Ki-tô giáo Tây phương, “Halloween / Hallowe'en” là rút gọn của “All-Hallow-e'en” nghĩa là đêm trước lễ Chư Thánh (e'en = even = eve / evening).

                                                                                         Ung Chu

Thứ Hai, 27 tháng 10, 2025

CÔNG SỨ 公使 - Ung Chu



ENVOY - MINISTER - CÔNG SỨ
ENVOY EXTRAORDINARY AND MINISTER PLENIPOTENTIARY - CÔNG SỨC ĐẶC MỆNH TOÀN QUYỀN
LEGATION - CÔNG SỨ QUÁN

Những người đứng đầu cơ quan đại diện được phân làm ba cấp như sau:
a) Cấp Đại sứ hoặc Đại sứ của Giáo hoàng được bổ nhiệm bên cạnh Nguyên thủ quốc gia và người đứng đầu cơ quan đại diện có hàm tương đương;
b) Cấp Công sứ hoặc Công sứ của Giáo hoàng được bổ nhiệm bên cạnh Nguyên thủ quốc gia;
c) Cấp đại biện được bổ nhiệm bên cạnh Bộ trưởng Ngoại giao.
Công sứ là đại diện ngoại giao đứng đầu công sứ quán, được bổ nhiệm làm đại diện cho nước cử trước nguyên thủ quốc gia của nước tiếp nhận theo quy định của luật quốc tế. Công sứ được hưởng các quyền ưu đãi và miễn trừ ngoại giao giống như đại sứ. Cách gọi đầy đủ là "Công sứ đặc mệnh toàn quyền".
- công : chung, thuộc việc công, thuộc nhà nước, thuộc quốc gia, như trong "công tố"
- sứ 使: sứ giả, người đi sứ ở nước khác
- quán : quán, trụ sở, sở quan.

"Công sứ" 公使 và "công sứ quán" 公使館 là các thuật ngữ dùng chung tại vùng văn hoá Hán tự. Tiếng Nhật đọc là "kō-shi" こうし và "kō-shi-kan" こうしかん, tiếng Hàn đọc là "gong-sa" 공사 và "gong-sa-gwan" 공사관. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là "công sứ quán" 公使.

Thứ Bảy, 25 tháng 10, 2025

THỊ TỨ 市肆 - Ung Chu



- thị : chợ, như trong "thị trường"
- tứ : hàng quán, nơi buôn bán.
"Thị tứ" 市肆 chỉ chung các địa điểm buôn bán như chợ, phố, tiệm, hàng quán, hiệu buôn... Trong tiếng Việt, "thị tứ" được dùng để gọi những điểm dân cư ở khu vực nông thôn nhưng diễn ra hoạt động kinh tế, kinh doanh tấp nập, thường toạ lạc ở những vị trí thuận tiện giao thông và trao đổi, hoặc tập trung tự phát quanh những cơ sở như nhà máy, khu công nghiệp...
Các thị tứ chưa phải là đô thị, nhưng đã có dáng dấp của đô thị, dễ trở thành tiền đề để đô thị hoá và nâng cấp thành thị trấn, phường trong tương lai. Thị tứ không phải là đơn vị hành chính chính thức, thường có quy mô tương đương thôn, ấp, làng, bản, xóm, và thường được xem là trung tâm của các xã. Khi so sánh với các địa phương nông thôn lân cận, thị tứ phát triển hơn về các hoạt động kinh tế phi nông nghiệp như thương mại, kinh doanh, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp, công nghiệp... và thường được cải thiện cơ sở hạ tầng để tạo điều kiện thuận lợi.

                                                                              Ung Chu 
                                                                (Hán-Việt Thông Dụng)

Thứ Tư, 1 tháng 10, 2025

TIẾNG QUAN HOẢ 官話 /ku̯an³³ xu̯a²⁴/ - Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng.



Các bạn nghe đến tiếng Quan hoả chưa? Đây là tên gọi của tiếng Quan thoại Tây Nam được dùng tại một vùng lãnh thổ Trung Quốc tiếp giáp miền núi phía Bắc Việt Nam, như tại Vân Nam 
雲南, Tứ Xuyên 四川, Trùng Khánh 重慶, Quý Châu 貴州, Quảng Tây 廣西...
"Quan hoả" là cách đọc từ "Quan thoại" 官話 bằng tiếng Quan thoại Tây Nam /ku̯an³³ xu̯a²⁴/. Vì sự đa dạng về bản ngữ, các cộng đồng ngôn ngữ chung sống tại khu vực kể trên sử dụng tiếng Quan thoại Tây Nam làm ngôn ngữ chung (lingua franca). Tại miền núi phía Bắc Việt Nam gần với biên giới tại Lai Châu, Lào Cai, Hà Giang, tiếng Quan hoả được dùng bởi một số cộng đồng người Hmong (Mông), người Cờ Lao, người Tu Dí... làm ngôn ngữ giao tiếp chung bên cạnh bản ngữ của mình hoặc tiếng Việt. Người thuộc các dân tộc này cũng sinh sống tại các tỉnh nói tiếng Quan hoả ở Trung Quốc.

Thứ Bảy, 27 tháng 9, 2025

THỦY TẠ 水榭 – Ung Chu

 

Các công trình xây trên mặt nước hoặc bao quanh là nước thường được gọi là "thuỷ tạ", ở Việt Nam có nhiều nhà hàng thuỷ tạ. Một số người cho rằng "thuỷ tạ" là cách viết sai chính tả, lập luận rằng phải là "thuỷ toạ" với "toạ"  nghĩa là ngồi.

Tuy nhiên, "thuỷ tạ" 水榭 là từ lâu đời trong Hán ngữ, tiếng Nhật đọc là "sui-sha" すいしゃ, tiếng Hàn đọc là "su-sa" 수사.

- thuỷ : nước
- tạ : nhà xây trên nền cao (đài, bệ, sàn...), tức là thay vì xây trực tiếp trên mặt đất thì sẽ làm một cái nền nâng lên rồi mới xây, chữ này mang bộ "mộc"  (cây gỗ) và kí âm bằng chữ "xạ" .
 
Thôi Thực 崔湜 thời Đường  có thơ đề rằng:
 
水榭宜時陟
山樓向晚看
 
Thuỷ tạ nghi thời trắc
Sơn lâu hướng vãn khan
 
Nghĩa là:

Leo lên thuỷ tạ vào thời điểm thích hợp, ngắm nhìn nhà lầu ở núi lúc nhá nhem.
                                                                                           Ung Chu

Thứ Hai, 16 tháng 6, 2025

BIÊN BẢN 編本 - Hán-Việt Thông Dụng, Ung Chu


"Biên bản" 編本 là một từ Hán-Việt người Việt tự tạo từ rất lâu, chuyên để gọi các loại văn bản được biên soạn, ghi chép cho mục đích công vụ, họp hành...
- biên : sắp xếp, sắp đặt, đặt chuyện, biên soạn, viết, ghi chép, như trong "biên kịch", "biên lai", "biên nhận" ("biên lai" 編來 và "biên nhận" 編認 cũng là các từ Hán-Việt người Việt tự tạo), đã được Việt hoá thành động từ "biên" trong tiếng Việt
- bản / bổn : tập vở ghi chép, văn bản, như trong "kịch bản".
"Việt-Nam tự-điển" (1931) của Hội Khai Trí Tiến Đức ghi:
- Biên bản 編本. Những tờ giấy biên những việc gì thuộc về công-sự: Biên-bản việc bầu cử, biên-bản việc tố-tụng, biên-bản việc hình án.
Xét cách đọc là "bản" thay vì "bổn", ta đoán rằng từ "biên bản" xuất phát từ các địa phương ở phía Bắc. Tại Hà Nội, sách "Từ hàn cử yếu" 詞翰舉要 (có đủ các lối đơn-từ giấy-má làm việc quan hơn 100 thể) xuất bản năm 1924 có phần hướng dẫn quy cách viết các biên bản.
                                                                                               Ung Chu

Thứ Tư, 7 tháng 5, 2025

HẢI CẨU 海狗 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng




Tên động vật "hải cẩu" 海狗 ta mượn tiếng Trung Quốc. Tuy nhiên, hiện nay Trung Quốc phân biệt 2 dạng sau:
- Hải cẩu 海狗: hải cẩu lông, thuộc họ Arctocephalinae
- Hải báo 海豹: hải cẩu không vành tai, thuộc họ Phocidae, được xem là hải cẩu thật sự, trong đó loài Hydrurga leptonyx được người Việt gọi là "hải cẩu báo" theo cách người Trung Quốc gọi là "báo hải báo" 豹海豹.
"Hải cẩu" 海狗 nghĩa là chó biển, "hải báo" 海豹 nghĩa là beo biển.
--
"Beo" là cách đọc Hán-Việt cổ xưa của "báo" . Để giải thích điều này, chúng ta phải học chữ Nho như một nhà Nho… trong quá khứ. Còn những nhà Nho ở các thời sau, dưới sự biến đổi của ngữ âm tiếng Việt, sự phân hoá đa dạng phương ngữ, những thay đổi trong các tự điển phiên thiết… sẽ có những cách xử lí chữ Nho khác đi ít nhiều.
 
Trước hết, ta nhắc lại 2 khuôn khổ thanh điệu tiếng Việt hiện đại ứng với 8 thanh của tiếng Hán trung cổ. Các thanh bậc phù/âm (phù : nổi) gồm “ngang - hỏi - sắc” và các thanh bậc trầm/dương (trầm /: chìm) gồm “huyền - ngã - nặng”. Để có hình dung rõ hơn về mối quan hệ ngữ âm giữa 2 khuôn khổ này, chúng ta có thể lắng nghe cách các phương ngữ ở Bắc Trung bộ phát âm, mang âm hưởng của tiếng Việt trung đại.

Thứ Ba, 15 tháng 4, 2025

THIẾT THA 切磋 - Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng



Trong Hán ngữ, "thiết tha" 切磋 có một nét nghĩa bóng là đau xót. Nghĩa đen là:
- thiết : cắt, như trong "thiết diện", "thảm thiết", "thống thiết"
- tha : mài cho nhẵn bóng.
Do đó, "thiết tha" 切磋 hay "tha thiết" 磋切 gợi lên nỗi đau xót thống thiết như cắt như mài. Chẳng hạn, tác phẩm nổi tiếng tại vùng văn hoá Hán tự là "Sở từ" 楚辭 ở thiên "Cửu hoài" 九懷 có câu thơ: "Bi tai vu ta hề, tâm nội thiết tha" 悲哉于嗟兮 內切磋 (buồn thay than ôi, trong lòng đau xót).
Trong tiếng Việt, "thiết tha" hay "tha thiết" có thể nói về cảm giác xót xa trong lòng, trong "Cung oán ngâm khúc" 宮怨吟曲 của Nguyễn Gia Thiều 阮嘉韶 có câu:
 
Khóc vì nỗi thiết tha sự thế
Ai bày trò bãi bể nương dâu?
Trắng răng đến thuở bạc đầu
Tử, sinh, kinh, cụ làm nau mấy lần?
 
"Thiết"  còn có nghĩa là sát, thân cận, gần gũi, như trong "thân thiết", "thắm thiết". Trong tiếng Việt, "thiết tha" hay "tha thiết" còn có thể nói về tình cảm thắm thiết, gắn bó: yêu nhau tha thiết, thiết tha công việc... "Thiết"  còn có nghĩa là cần kíp, cấp bách, như trong "cấp thiết", "cần thiết". Trong tiếng Việt, "thiết tha" hay "tha thiết" cũng có thể nói về cảm giác cần thiết, mong cầu được đáp ứng: nguyện vọng tha thiết, thiết tha yêu cầu...
Hiện tượng đa dạng hoá ý nghĩa của "thiết tha" và "tha thiết" trong tiếng Việt, ta có thể đánh giá là do yếu tố "tha" bị mờ nghĩa khi vận dụng thực tế vào ngôn ngữ, tạo cảm giác tổ hợp này bao gồm một yếu tố rõ nghĩa là "thiết" và một yếu tố hài hoà ngữ âm nhưng có vẻ rỗng nghĩa là "tha" (bị nhìn nhận như một từ láy). Vì thế, 3 nét nghĩa kể trên tuỳ vào cách hiểu yếu tố "thiết"  là thống thiết hay thắm thiết hay cần thiết.
                                                                                            Ung Chu