CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

ÔNG NGUYỄN PHI KHANH YÊN NGHỈ TRÊN ĐỈNH NÚI BÁO ĐỨC (CHÍ LINH) - Theo trang Giai Thoại Xưa



Mất ở Trung Quốc, vì sao thân phụ Nguyễn Trãi lại yên nghỉ trên đỉnh núi Báo Đức?
Có một ngôi mộ nằm lặng lẽ trên đỉnh núi cao ở Chí Linh, muốn lên được đến nơi, có người phải đi từ sáng đến quá trưa mới trở xuống. Con đường ấy vòng vèo qua rừng, có đoạn dốc dựng, có đoạn cây cối che kín lối đi. Thế nhưng suốt nhiều đời qua, hậu duệ dòng họ Nguyễn Quy và những người yêu lịch sử vẫn tìm về nơi ấy để thắp hương cho một bậc đại nho đặc biệt: cụ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi.
 

TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU, RU KHÚC VE TRƯA, NGOẢNH NHÌN HẠ CŨ – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU...
 
Phía biển xa kia là gì ?
Sao cánh buồm xuôi mãi
Chân trời màu đỏ thẫm
Vời vợi mắt hoàng hôn
 
Có hay không niềm bình yên vĩnh cửu
Cánh thiên di lưu trú tận đường trời
Tiếng gọi nào hư thực
Một lần dắt ta đi...
 
Lay đơn độc mùi khói hương không tuổi
Quay mặt lại là bờ bến cũ
Những bông hoa dệt nghìn tia ánh sáng
Cố hương xưa muôn ức tinh cầu
 
Ta tìm bản thể ta
Chưa khôn khuây nỗi nhớ
Trước biển hỏi nghìn câu thinh lặng
Chỉ sóng bạc đầu mãi một ngôn âm...
 

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động  này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động  này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động  này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động  này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc. 

"TRU DI TAM TỘC” LÀ GỒM NHỮNG TỘC NÀO? - Bài viết của Phạm Nhật Gia Hân, trích từ trang Tiếng Việt giàu đẹp

         
               

Kính chào tất cả quý độc giả, chắc hẳn rằng mọi người đều đã được nghe đến cụm từ “Tru di tam tộc”, vậy hôm nay các bạn đọc hãy cùng Tiếng Việt giàu đẹp tìm hiểu xem “Tru di tam tộc” là gồm những tộc nào nhé!
 
Vậy “Tru di tam tộc” là gì?

 Từ “tru” (tiếng Hán: , đọc là Zhū) và từ “di” (tiếng Hán: , đọc là yí) trong "Tru di tam tộc” mang nghĩa là giết sạch.
Theo tác giả An Chi “Tru di tam tộc” có ít nhất là bốn cách hiểu mà Từ nguyên (một bộ từ điển tiếng Hán ra mắt năm 1915) đã cho như sau:
 1. Cha mẹ, anh em, vợ con là tam tộc (Phụ mẫu, huynh đệ, thê tử vi tam tộc).
 2. Họ cha, họ mẹ, họ vợ là tam tộc (Phụ tộc, mẫu tộc, thế tộc vi tam tộc).
 3. Cha, con, cháu ( tức con của con) là tam tộc (Phụ, tử, tôn vi tam tộc).
 4. Anh em của cha, anh em của mình, anh em của con là tam tộc (Phụ côn đệ, kỷ côn đệ, tử côn đệ vi tam tộc).
 
Vậy “Tru di tam tộc” là gồm những tộc nào?

Ở thời kỳ quân chủ chuyên chế tập quyền cao độ, tiêu biểu như vụ tru di tam tộc của Nguyễn Trãi thời vua Lê Thái Tông.
Vì có nhiều cách hiểu như trên nên vụ án Nguyễn Trãi cách đây 555 năm (1442) cũng được người thời nay hiểu khác nhau. Cao Huy Giu dịch “Đại Việt sử ký toàn thư” đã viết như sau: “(Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), giết hành khiển Nguyễn Trãi và vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến ba đời” (tập III, Hà Nội, 1972, tr. 131). Ba đời đương nhiên chỉ có thể là đời cha, đời con và đời cháu (ứng với nghĩa 3 của Từ nguyên) mà thôi. Nhưng Phan Huy Lê thì lại viết: “Nguyễn Trãi bị ghen ghét gièm pha, có lần bị hạ ngục và cuối cùng bị tru di ba họ”. Ba họ, theo cách hiểu thông thường là họ cha, họ mẹ và họ vợ đương nhiên phải nhiều và nặng hơn ba đời vì ba đời chỉ thuộc có một họ.
 
Từ đây chúng ta có thể thấy được ở Việt Nam thời xưa có rất ít tộc bị “Tru di tam tộc” nhưng đây cũng là một trong những hình phạt tàn khốc nhất trong thời kỳ quân chủ chuyên chế tập quyền cao độ thời xưa ở đất nước ta.
 
                                                               Phạm Nhật Gia Hân
                                                     Trích từ trang Tiếng Việt giàu đẹp

LẮNG LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


  

 
Lắng Lòng

1.
Lắng lòng rót mật vào thơ
Tình yêu tuổi nhỏ dại khờ mới nhen
Lần đầu gặp gỡ làm quen
Bỗng nghe “Tiếng sét…” gọi tên “Ái tình…”
Nắng rơi tia nắng lung linh
Gió bay tà áo dáng hình đắm say
Xin Trời sợi chỉ buộc tay
Tơ hồng kết nối ngày ngày yêu thương
Giọt sương trên lá còn vương
Gió lay khẽ rụng trên đường ướt vai
Tóc dài buông xõa chia hai
Bóng em trong nắng đổ dài tinh khôi…
Em ơi… chiều đã muộn rồi
Hoàng hôn tím cả một trời mênh mang
Lối về tím rụng hoa xoan
Tím màu chung thủy tím man mác buồn…
 
2.
Bây giờ dâu bể dị thường
Cách xa, xa cách bốn phương trời sầu
Vui thời cạn, buồn thời sâu
Nhớ em nỗi nhớ đậm màu thiết tha…
Người ta đi với người ta
Rượu nồng, pháo cưới, xe hoa, áo hồng
Chát chua, chua chát trong lòng
Tình chia hai ngả còn trông đứng ngồi
Nhìn nhau lần cuối rồi thôi
Giang đầu, giang vĩ xa xôi vô thường
Quay lưng chia biệt người thương
Bây giờ hai đứa ngược đường hiu hanh…
Xa nhau từ thưở tóc xanh
Bây giờ gặp lại tóc thành ánh kim
Tình xưa tưởng đã khuất chìm
Mà yêu thương cũ trong tim vẫn đầy…
 
            Nha Trang, tháng  05. 2026
                 LÊ KIM THƯỢNG

MẸ 媄 (CHỮ NÔM) - Bài viết của Khánh Ly, Theo Tri thư đạt lễ

MẸ, chữ Nôm được ghi là Cấu tạo của chữ gồm có hai phần: Bên trái là bộ nữ  và bên phải là chữ mỹ .

MẸ  là một chữ Nôm thuộc nhóm chữ Nôm sáng tạo của người Việt, thông qua việc kết hợp giữa thành tố biểu âm và biểu ý. Nghĩa là trong chữ mẹ nữ  là bộ thủ biểu ý chỉ chung cho người nữ, còn mỹ  là thành tố biểu âm, cho âm đọc Nôm là mẹ.
Theo nguyên tắc chỉnh vần của chữ Nôm mà thực tế là chỉnh nguyên âm, ta có nguyên tắc: Nguyên âm dòng nào thì chỉnh theo nguyên âm dòng ấy. Chữ mẹ  được chỉnh theo nguyên tắc nguyên âm dòng trước là i, iê (ia), ê, e. Cụ thể ở đây là chỉnh từ i → e, từ mỹ → mẹ.
 
Hình ảnh: Chữ Mẹ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”
(Con cò - Chế Lan Viên)

Lúc chưa biết gì về thế giới, người đầu tiên ta gọi là mẹ. Đến lúc tưởng như đã hiểu hết về đời, tiếng mẹ vẫn là lời còn đó, đôi khi cả đời người cũng chưa thể học xong.
Tiếng “mẹ” bật ra từ môi như một phản xạ, là tiếng gọi phổ thông nhất nằm giữa rất nhiều những tiếng gọi khác trong tiếng Việt như má, u, bu, bầm, mệ, mế, mụ, mạ… Nhóm phụ âm môi (b-ph-v-m) là thứ âm thanh trẻ con dễ bắt chước nhất khi học nói. Vì vậy những từ để gọi người thân như mẹ, bà, ba, bố... đều khởi đầu bằng những âm này.