CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

PHÙ LƯU 芙畱, TRẦU (GIẦU, BLẦU...) - Ung Chu



Tìm về các làng cổ của người Việt ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ là một cách hay để nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Hán và chữ Nôm. Hình thái tiếng Việt được ghi nhận trong thế kỉ 17 bởi người phương Tây là tiếng Việt trung đại, trực tiếp phân hoá thành các phương ngữ hiện đại. Trước đó vài trăm năm, tiếng Việt cổ có nhiều khác biệt với thời nay mà ta cần sự trợ giúp của các ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm để có thể phục dựng.
--
Phường Đông Ngàn tại thành phố Từ Sơn (tính đến tháng 6/2025), tỉnh Bắc Ninh có khu phố Phù Lưu vốn là làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu. Trung tâm làng là chợ Giầu ngày xưa nổi tiếng buôn bán mặt hàng trầu cau (giầu cau).

Trong tiếng Việt hiện đại, những từ tồn tại hai biến thể âm đầu "tr-" và "gi-" xuất phát từ một gốc chung tiếng Việt trung đại âm đầu "bl-", theo xu hướng đơn hoá hệ thống phụ âm đầu của người Việt xưa. Có những phương ngữ đơn hoá phụ âm đầu bằng cách hợp nhất âm đầu "bl-", "tl-" (chủ yếu xuất hiện trong các từ phi Hán) vào phụ âm đơn "tr-" (vốn phổ biến từ tiếng Hán vào tiếng Việt thời trung đại để đọc chuyên biệt các chữ Nho).

Có một số phương ngữ tại Bắc bộ đơn hoá bằng cách trung hoà hai âm /b/~/ɓ/ và /l/ về phương thức cấu âm, vị trí cấu âm. Nếu dò theo bảng phụ âm IPA (phiên âm quốc tế) ta sẽ thấy kết quả trung hoà cho ra âm /z/~/ð/ chính là phụ âm "gi-" /z/ tiếng Việt hiện đại, sáp nhập với âm "d" /ð/ trung đại trở nên đồng âm /z/ hiện đại. Để xác định các từ thuộc trường hợp này, ta dựa theo ghi nhận tiếng Việt nửa đầu thế kỉ 17 của Alexandre de Rhodes. Một số ít ví dụ:
- blây lấm aó: enlamearſe; inficere veſtem luto. → "trây - giây", nghĩa là bị dính vết, làm cho dính vết ("giây" cũng trở thành từ toàn dân, nghĩa là dính vào việc gì)
- blàn; tresbordar: inundo, as. ſou᷄ blàn ra: o rio tresborda: fluuius inundat. → "tràn - giàn", nghĩa là chất lỏng trào ra ngoài ("giàn" cũng trở thành từ toàn dân, trong từ "giàn giụa")
- blăn blở: virarſe eſtando deitado: conuerti iacentem. → "trăn trở - giăn giở"
- mặt blăng: a lua: luna, æ. blăng tlòn: lua chea: pleniluniū, ij. blăng khuiét; mingoante ou quando não he chea: luna non rotunda extra plenilunium. ſáng blăng; luar; lunaris lux. → "trăng - giăng"
- blăng blối: fazer teſtamento: teſtamentum condere. → "trăng trối - giăng giối"
- blời: ceo; cælum, i. mặt blời: o ſol; ſol, is. sổ blời: arco da velha: iris, idis. móu᷄ blời: ſinal de tormenta; ſignum tempeſtatis in cælo. → "trời - giời"
- blả cou᷃: pagar o trabalho: ſoluere opus. blả ơn: render o beneficio: retribuere beneficium. máng blả: agastarſe com quem ſe agaſta: rependere iram. → "trả - giả"
- blai gái: fornicar: fornicor, aris. → "trai - giai"
- blải: eſtender; explico, as. léy áo blải lót đàng; tomar a veſte e eſtendela no caminho: ſternere viam veſtibus. → "trải - giải"
- bọt blào ra: eſcuma que ſae fora por feruer a panella; bulliendo ſpumam effundi. → "trào - giào"
- bláo: falſificar, trocar o bom por ruim: adultero, as, deprauo, as. giả bláo tièn: mudar as caixas boas em ruins: deprauare monetam. bláo bạc: falſificar a prata; adulterare argentum. → "tráo - giáo" (tráo trở - giáo giở)
- blẹo: torcerze algum membro: luxo, as. blẹo chên: torcerſe o pè: luxare pedem. → "trẹo - giẹo"
- blàu: betel: quoddam folium indicum in modum hæderæ quod continuò edunt indigenę alijſque miniſtrant in ſignum beneuolentiæ. têm blàu: concertar o betel: folium illud concinnare ad edendū. → "trầu - giầu".

Tên làng Giầu ở Từ Sơn đặt theo loài trầu, âm xưa là "blầu". Ngày nay, trầu trong tiếng Khmer là ម្លូ (mlu), tiếng Ba Na (Bahnar) là "bơlŏu", một số phương ngữ tiếng Việt ở Bắc Trung bộ là "trù", tiếng Mường là "tlù", tiếng Thái Lan là พลู (phlu), tiếng Tày là "mjầu"... Tất cả đều đồng nguyên với nhau. Trầu là thực vật bản địa ở Đông Nam Á, bao gồm cả vùng miền Nam Trung Quốc ngày nay tại Quảng Đông, Quảng Tây, Vân Nam.

Tên chữ của làng Giầu là Phù Lưu 芙留 / 芙畱 là một trong số các tên Hán ngữ của trầu, cách viết khác không mang bộ "thảo" (cỏ cây) là 扶留. "Phù lưu" 芙留 / 芙畱 / 扶留 là phiên âm cách gọi trầu của các cộng đồng phi Hán thời xa xưa sống về phía Nam so với lãnh thổ người Hán. Trong Hán ngữ, chữ "phù" / vốn mang âm đầu /b/, đồng âm với chữ "phù" nghĩa là bùa mà ngày xưa người Việt đọc theo tiếng Hán là "bùa". Chữ "lưu" / mang vần "vưu" trong phiên thiết cho ra âm Hán-Việt vần "ưu" hoặc "âu", chẳng hạn một phiên thiết khác của "lưu" / là "lực cầu thiết" 力求切. "Phù lưu" 芙畱 có thể phục dựng âm cổ xưa như *bùa lừu*, nhằm ghi âm *b-lừu*, tương tự âm "blầu" tiếng Việt cổ xưa.

Người Hán ở những vùng khác nhau gọi trầu là "lão đằng" 荖藤 hoặc "lâu diệp" 蔞葉 với "đằng" chỉ loài dây leo, "diệp" chỉ lá, còn "lão" hay "lâu" là phiên âm tên lá trầu của các cộng đồng phi Hán. Con người từ xưa còn trồng trầu cho leo lên thân cau, nên trầu còn được người Hán gọi là "tân lang diệp" 檳榔葉 với "tân lang" 檳榔 nghĩa là cau.

Theo nghiên cứu, cây cau có bản địa là các đảo vùng Malaysia và Philippines, đã được di thực khắp nơi trong khu vực, trong đó có miền Nam lãnh thổ người Hán (nay là Quảng Tây, Hải Nam của Trung Quốc). Sự tích trầu cau của người Việt kể về hai anh em ruột họ Cao tên Tân và Lang, cùng cô gái họ Lưu. Theo sự tích, Tân biến thành cây cau, người đàn bà họ Lưu (Lưu thị) là vợ của Tân biến thành dây trầu. Lang thì biến thành đá vôi.

Họ "Cao" là phép chơi chữ với cây "cau", là loài cây có dáng rất cao. Người Việt nảy ra cách gọi tên thực vật "cau" này từ gốc Hán "cao" . Các ngôn ngữ nhóm Chăm (Chamic) như tiếng Chăm, tiếng Raglai là các ngôn ngữ Malay-Polynesia nên sở hữu nhiều từ vựng tương đồng với nhiều thứ tiếng khác ở Đông Nam Á hải đảo. Trong số các dòng họ lớn của người Raglai có họ Pinăng nghĩa là cau. Họ này được Việt hoá thành họ Cao. Tiếng Chăm ở duyên hải Nam Trung bộ có hiện tượng biến đổi nguyên âm /i/ với /a/ nên cau được gọi là "panâng" ꨚꨗꩃ /pa.nɯŋ/ hơi khác với "pinăng" tiếng Raglai hay "pinang" tiếng Malay.

Cau có tên chữ Hán là "tân lang" 檳榔 / 賓桹 / 賓郎 mà người Hán nói tiếng Mân (ví dụ tiếng Mân Nam phát âm "pin-nn̂g") đã phiên âm ngoại ngữ, chẳng hạn tiếng Malay "pinang". Khi đọc bằng âm Hán-Việt chúng ta sẽ không biết được điều này. Tên đảo (cù lao) Penang (tiếng Malay: Pulau Pinang) ở Malaysia vì vậy mà được người Hoa gốc Phúc Kiến (Mân Nam) sinh sống đông đúc tại đây gọi là "Tân thành" - "Pin-siâⁿ" 檳城 (POJ).

"Tân" là một yếu tố Hán-Việt chịu ảnh hưởng bởi hiện tượng "trùng nữu" các âm môi /b, p, pʰ, m/ trong bảng phiên thiết tiếng Hán. Người Việt xưa quy ước phải đổi âm đầu như sau: /pj-/~/bj-/ thành "t-", /mj-/ thành "d-", /pʰj-/ thành "th-".
Tạm hình dung bằng kí âm Latin, "tì/tỉ" trong phiên thiết có thể chuyển âm là *pyi*, sẽ khác với "bỉ" chuyển âm là *pi*. Khi này người Việt đổi *pyi* thành *ti* nên ta có âm "tì/tỉ". Tương tự, "tân" / chuyển âm *pyin*, "bân" chuyển âm *pin*, nên ta mới phiên âm 菲律賓 (Philippines) là "Phi Luật Tân" và cau mang tên Hán-Việt "tân lang" 檳榔. Cứ âm đầu *py-* /pj-/ hay *by-* /bj-/ thì phải chuyển thành âm Hán-Việt "t-".

"Thiên" chuyển âm *phyien*, "phiên" (phiên thiết ghi chú khép tròn môi, "hợp" ) chuyển âm *phwien*, "thí" chuyển âm *phyie*, "phí" (phiên thiết ghi chú khép tròn môi) chuyển âm *phwi*. Cứ âm đầu *phy-* /pʰj-/ thì phải chuyển thành âm Hán-Việt "th-".

"Dân" chuyển âm *myin*, "mân" chuyển âm *min*, "danh" chuyển âm *myæng*, "manh" chuyển âm *mæng*. "Di" chuyển âm *myie*, "mi" (âm Hán-Việt xưa: mày) chuyển âm *miy*. Cứ âm đầu *my-* /mj-/ thì phải chuyển thành âm Hán-Việt "d-".
                                                                      Ung Chu
                                                      #Tên_chữ_tên_Nôm_làng_Việt

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét