XUÂN NHẬT TUYỆT CÚ THẬP THỦ
(Mười bài thơ Tuyệt Cú Ngày Xuân)
1. Bài thơ AN QUÁN TẢO XUÂN (Kỳ nhất):
安館早春 (其一) AN QUÁN TẢO XUÂN (Kỳ nhất)
三更鐘斷雞咿喔, Tam canh chung đoạn kê y ốc,
落落數家聞爆竹。 Lạc lạc sổ gia văn bộc trúc.
出門倦倚立門看, Xuất môn quyển ỷ lập môn khan,
路少燈行室稀燭。 Lộ thiểu đăng hành thất hi chúc.
高伯适 Cao Bá Quát
- Y Ốc 咿喔 : Từ Tượng thanh dùng để diễn tả tiếng gà EO-ÓC gáy.
- Lạc Lạc 落落 : là Lác đác, là thưa thớt.
- Sổ 數 : Tính từ chỉ số lượng, SỔ là Một vài; Động từ là Đếm; Danh từ đọc là SỐ : là Con số , chữ số.
- Bộc Trúc 爆竹 : Bộc là nổ, trúc là tre. BỘC TRÚC là tiếng tre nổ, nói đúng hơn là "tiếng mắt tre nổ." Ngày xưa, chưa có pháo, người ta đốt các mắt tre già ở dưới gốc cho nó nổ thành tiếng để xua tan những xui xẻo, buồn lo... của năm cũ cho nó qua đi. Sau nầy, khi chế tạo được pháo rồi, nhưng vì Tập Quán Ngôn Ngữ đã quen, người ta vẫn dùng từ Bộc Trúc để chỉ pháo luôn. Cho nên khi dịch từ Bộc trúc, phải biết đó là PHÁO, chứ không phải tiếng tre nổ nữa!
- Quyển Ỷ 倦倚 : Vẻ mỏi mệt mà dựa vào (cái gì đó...)
- Chúc 燭 : là ngọn đuốc, ngọn nến hay ngọn đèn... trong nhà.