CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÂU CHUYỆN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn CÂU CHUYỆN VĂN HỌC NGHỆ THUẬT. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026

KỶ NIỆM MỘT THỜI SỐNG NGHÈO VỚI NGUYỄN BÍNH Ở RẠCH GIÁ – Bài viết của Kiên Giang Hà Huy Hà

   
     
Nhà thơ Nguyễn Bính 
 

Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ Thơ Mới thập niên 1930 - 1940, còn thi sĩ – soạn giả Kiên Giang là một tên tuổi nổi bật của thi đàn miền Nam trước năm 1975.

Giữa họ đã từng có một cuộc tương phùng thú vị, được chính Kiên Giang kể trong một bài báo năm 1968 ở sau đây:

Hồi đó khoảng năm 1944, một người bạn cho tôi hay Nguyễn Bính hiện đang tá túc tại nhà của 1 công chức ở xóm biển của quê hương tôi (Rạch Giá- Kiên Giang). 

Thứ Tư, 26 tháng 8, 2026

VỀ HUẾ THẢ OM – Bài viết của Trần Kiêm Đoàn


Nhà hàng Thả Om 12/12 Nguyễn Phúc Nguyên Huế

Trong gần nửa thế kỷ phiêu bạt, tôi đã có dịp tìm đến và cúi nhìn bóng mình trên nhiều dòng sông được xem là “thiêng” của thế giới: Mississippi mênh mang, Seine thơ mộng, Thames trầm mặc, Hoàng Hà cuộn màu lịch sử, Hằng Hà chở nặng đức tin, Tiền Đường dậy sóng, Nile âm thầm nuôi dưỡng một nền văn minh… Chỉ riêng Amazon: dòng sông hùng tráng và bạo liệt bậc nhất hành tinh; là tôi chưa một lần được thấy.
Nhưng sông lớn đến đâu cũng chỉ chảy qua miền đất lạ. Có những dòng sông không cần nổi tiếng mà vẫn chảy suốt một đời người. Chúng không nằm trên bản đồ thế giới, mà nằm trong bản đồ tâm tưởng; càng đi xa càng thấy gần, càng lớn tuổi càng nghe tiếng nước gọi về.
 

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

TÌNH NGHĨA GIÁO KHOA THƯ – Nhà văn Sơn Nam


Nhà văn Sơn Nam

- Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?
Thầy xã trưởng đáp:
- Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Ðể tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó tới công sở...
Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình.
- Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quý độc giả thân mến gần xa.
Thầy xã hỏi:
- Phái viên là gì vậy thầy?
- Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thâu tiền.
- À! Bây giờ tôi mới biết cái thằng Tư Có. Nó thiếu tiền của nhà báo hả? Hèn chi nó bơi xuồng lên công sở lãnh báo, đúng bảy bữa là có mật nó. Nghèo không biết thân lại còn bày đặt làm sang mua báo không trả tiền!
 

VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1982–1985) (KỲ 2) – Bài viết của Hoàng Hưng


Ảnh: từ trái qua phải: Hoàng Hưng, Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên tại Bờ Hồ Hà Nội những năm 2000

Lần này vào Sài Gòn, tôi đã chọn một hành trình mới: từ Hà Nội xuống Hải Phòng để đáp tàu thuỷ vào (đường thuỷ ven biển Hải Phòng-Sài Gòn mới có được ít lâu). Người giúp tôi mua vé tàu là hoạ sĩ Thọ Vân, phụ trách Mỹ thuật của Hội Văn nghệ Hải Phòng, bạn thân nhất của tôi trong 8 năm tôi sống ở thành phố này. Anh là một người tự học, rất ham học. Tôi đã dịch cho anh cả loạt sách hội hoạ tiếng Pháp anh mua ở cửa hàng sách ngoại văn. Trước ngày tàu khởi hành ít bữa, tôi đã chở sẵn hàng hoá mới mua (trong đó có bộ Bách khoa toàn thư Larousse) xuống nhà anh để sẵn. Khi tôi bị bắt, công an xuống Hải Phòng thu giữ hết đồ đạc của tôi và không bao giờ trả lại, mặc dù sau khi ra tù, tôi đã có đơn đề nghị trả! Đơn không có hồi âm, như xử sự thường lệ của các cơ quan công quyền đối với công dân! Mãi sau này, tôi mới biết khi vụ án đã xong, đến thời hạn “thanh lý”, họ đã đem bán tất cả “tang vật vụ án”, kể cả “tang vật chủ yếu” là tập thơ VKB mà Hoàng Cầm chép tặng tôi, số tiền bán được không biết vào công quĩ hay túi riêng của ai?

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

THƯ GỞI VỢ CỦA CỐ NHÀ VĂN DUYÊN ANH – Đinh Tiến Luyện, Vũ Phan Anh sưu tầm

Thuở thiếu thời, tôi mê mẩn những tác phẩm của Duyên Anh, đọc hầu như ko thiếu cuốn nào của ông ấy, từ Dũng Đa kao cho tới Điệu ru nước mắt và Sa mạc tuổi trẻ. Sau 30/4/1975, văn tài ảnh hưởng khá nhiều đến thanh thiếu niên miền Nam này phải xách gói vào trại cải tạo rồi sau đó sống lưu vong trong đau khổ. Dưới đây là thư ông viết gởi cho vợ mình năm 1969. Tôi dẫn lại từ Fb của nhà văn Đinh Tiến Luyện ngày 21/4/2020 - như một nén tâm nhang thắp cho ông.


                                                                                       Vũ PhanAnh

Hình ông bà Duyên Anh chụp năm 1982 trước vài ngày bà Duyên Anh cùng con lên đường sang Pháp định cư
 
Thư viết cho vợ
Nhà mình.. Nửa đêm…
 Phượng yêu dấu!
Đêm nay, anh cố ý thức thật khuya để khởi viết cuốn thứ ba trong bộ truyện dài sáu cuốn của anh. Đời anh sẽ chỉ loay hoay ở bộ truyện này. Bởi vì, bộ truyện này anh viết tặng con chúng ta. Bởi vì, khi anh viết bộ truyện này tâm hồn anh không phải là tâm hồn của anh hiện tại, thứ tâm hồn què quặt, xảo trá, thủ đoạn của người sớm bước xuống cuộc đời, sớm biết cuộc đời để sớm ghê tởm cuộc đời. Tâm hồn anh, khi viết truyện tặng con chúng ta là tâm hồn của ngày xưa còn bé. Tâm hồn ấy đã ngập ứ kỷ niệm hoa bướm, trong suốt pha lê. Cho nên, hễ anh viết, ý tưởng từ óc chảy xuống tim chảy ra năm đầu ngón tay anh. Và anh viết rất nắn nót. Viết cả đêm chỉ được ba trang giấy. Như lần khởi sự viết cuốn thứ nhất. Phượng ạ, anh đốt hết nửa gói thuốc lá, uống cạn một chai nước lọc mà vẫn chưa “đẻ” được dòng nào. Thế mới biết thực hiện đúng ý muốn của mình bao giờ cũng khó.

GIANG HỒ LÀ GÌ? – Bài viết của Tiểu Vũ


                                    Ảnh: Tác giả bài thơ Phạm Hữu Quang - Ông sinh 1952 mất năm 2000

Những ngày gần đây, những cái tên như Huấn Hoa Hồng, Khánh Sky lại được nhắc nhiều trên mạng xã hội, thường đi kèm một danh xưng đã trở nên quen thuộc: “giang hồ mạng”.
 
Nhưng nếu trở về với nghĩa gốc của hai chữ “giang hồ”, có lẽ phải đặt một câu hỏi khác: những người được gọi như vậy hôm nay có thật sự xứng đáng với hai chữ “giang hồ”?
 
“Giang hồ” là một từ Hán - Việt, viết bằng chữ Hán là 江湖. Trong đó,  (giang) nghĩa là sông lớn, còn  (hồ) nghĩa là hồ nước. Theo nghĩa gốc, giang hồ là sông và hồ, dùng để chỉ không gian sông nước rộng lớn. Từ hình ảnh địa lý này, về sau “giang hồ” mới được mở rộng thành một khái niệm văn hóa, chỉ thế giới bên ngoài chốn quan trường và đời sống quyền lực.
 

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

TÔI ĐÃ BIẾT GÌ VỀ NHẤT LINH - Đông Hồ

                                         (Fb Thú chơi sách)

 

                            Chân dung Nhất Linh của danh họa Nguyễn Gia Trí. 
                               Bức họa chưa hoàn tất, bàn tay còn dang dở.


Anh Nguiễn-Ngu-Í,

Chắc rằng anh muốn hỏi tôi về Nhất-Linh; chớ không hỏi tôi về Nguyễn-Tường-Tam. Có như thế thì tôi mới trả lời anh được. Nói như vậy là tôi muốn nhận định phân minh hai lãnh vực trong một nhân-vật. Là tôi chỉ có biết về nhà văn - sĩ Nhất-Linh mà không được biết về nhà chính trị Nguyễn-Tường-Tam.

Tôi có cảm tình với Nhất - Linh, tôi có yêu mến Nhất-Linh, tôi có phán đoán về Nhất-Linh, là tôi nhìn Nhất-Linh ở trong địa hạt văn chương, vì bút hiệu đó xuất hiện như một ngôi sao chói lọi trên nền trời văn học.

Trừ ra hai tác phẩm đầu tay khi mới tập viết để vấn thế là Nho PhongNgười Quay Tơ, ký tên là Nguyễn-Tường-Tam, còn tất cả tác phẩm năm 1932-1933 trở về sau, đều ký bút hiệu là Nhất-Linh, trong sách cũng như trong báo, từ Phong-hóa Ngày-nay ở Hà-nội cho đến Văn-hóa Ngày-nay, tại Sài-gòn hồi gần đây.

Phán đoán về văn nghiệp Nhất-Linh, tôi có hai nhận định này:

1.- Văn trào phúng của báo Phong-hóa, Ngày-nay.

2.- Văn tiểu thuyết của Tự-lực văn-đoàn.

***

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

LỪNG LẪY MỘT THỜI: NGUYỄN TẤT NHIÊN, THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH – Phạm Chu Sa


          Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên(thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ "Thiên tai" xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.
Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài "Vì tôi là linh mục" tuyệt hay: 

“Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”
 
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

BÀI THƠ “VIẾNG BẠN” CỦA HOÀNG LỘC ĐÃ TỪNG BỊ PHÊ PHÁN THẾ NÀO - Bảo Thư



“Viếng bạn” được được Hoàng Lộc viết năm 1947 và in trong tập bút ký “Chặt gọng kìm Đường số 4”. Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của một chiến sĩ tên tên là Th vào ngày 8-1-1948 trong trận Bố Củng. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên đồng đội đành phải đào một cái huyệt nhỏ để chôn Th. Nhìn thi thể đồng đội không có áo quan, ai cũng khóc.
 
Năm 1949, tạp chí Văn Nghệ đăng bài thơ này và gây sự xúc động mạnh trong giới văn nghệ sĩ kháng chiến. Cho đến nay "Viếng bạn" được xem là bài thơ hay nhất viết về tình đồng đội, về người liệt sĩ trong kháng chiến.
 
Tuy nhiên, bài thơ này đã từng bị “đánh” tơi bời trong phong trào “Chỉnh huấn – chỉnh quân” trong thập niên 1950. Tháng 12-1953, trên Nội san Giáo Dục số 12 xuất hiện diễn đàn: “Chúng ta cùng thảo luận”, chủ đề xoay quanh nội dung tư tưởng của bài thơ “Viếng bạn”. Khởi xướng mở diễn đàn thảo luận bài thơ Viếng bạn là Nguyên Chương, một cây bút lý luận phê bình kỳ cựu .
Với tựa đề “Nhân giảng bài Viếng bạn: Đả phá óc mê tín” đăng tạp chí Giáo Dục số 12 năm 1953, tác giả Nguyên Chương đưa ra 3 luận điểm phê bình bài “Viếng bạn”:
 
1) Bài thơ Viếng bạn cổ súy tư tưởng phong kiến, mê tín, dị đoan, duy tâm thần bí;
2) Nghệ thuật trong bài thơ Viếng bạn là sáo cũ, giả tạo;
3) Ảnh hưởng của bài thơ Viếng bạn đến học sinh là rất xấu.
 
Để chứng minh “Viếng bạn” là bài thơ “gọi hồn”, mê tín dị đoan, Nguyên Chương thực hiện một cuộc điều tra, khảo sát học sinh tại 3 lớp đã nghe giảng bài thơ Viếng bạn và đặt ra 3 câu hỏi trong cuộc điều tra này là:

- “ Khôn thiêng xin chỉ mặt là thế nào? Có phải linh hồn anh bộ đội chết đó còn sống và khôn thiêng phải không?”
- “ Ai tin rằng sau khi xác thịt chết thì linh hồn còn sống?”
- “ Thế thì em nào sợ ma, tin có ma cứ thành thật cho biết”   
Và tác giả dẫn kết quả điều tra như sau:
a) Ở câu hỏi thứ nhất có một số học sinh trả lời “Linh hồn anh bộ đội ấy khôn thiêng, linh hồn anh còn sống”;
b) Ở câu hỏi thứ hai có 28/ 125 em tin là sau khi chết thì linh hồn còn sống;
c) Ở câu hỏi thứ ba có 92/125 học sinh sợ ma.
 
Đến đây, tác giả bài viết đưa đến kết luận: con em Việt Nam còn mê tín nhiều và cần phải “làm công việc giải độc”. Và việc một tác phẩm như bài thơ Viếng bạn có hiện tượng người sống “đang nói với người chết; hỏi người chết có khôn thiêng thì chỉ mặt kẻ thù” là biểu hiện rõ ràng tư tưởng, tình cảm “phong kiến, duy tâm, thần bí” và “hoen ố màu sắc siêu hình”.
 
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả bài viết cũng phê phán Viếng bạn là bài thơ sáo rỗng, giả tạo. Nguyên Chương dẫn chứng rằng: “Gọi anh chẳng thành lời mà hàm răng dính chặt”. Răng dính chặt thế mà đoạn dưới và đoạn sau anh nói quá nhiều, anh nói rõ ràng lắm. Hình ảnh không thống nhất, ta có cảm tưởng là thơ giả tạo”.
 
Về hệ quả, tác giả cho rằng bài thơ có ảnh hưởng rất xấu đối với thanh thiếu niên: “con số 92/125 kể trên quả là một thương tâm bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong lời nói, trong câu văn. Nếu không đập tan mê tín thì ít nhất đừng gieo rắc mê tín”. Và tác giả cảm thấy “ân hận đã đem bài Viếng bạn giảng cho học sinh trong ngày thương binh- tử sĩ” vì việc giảng dạy bài thơ Viếng bạn không những không đạt được mục đích căm hờn kẻ địch, thương người chiến sĩ hi sinh mà chỉ gieo rắc tư tưởng mê tín dị đoan.
 
Cuối cùng, tác giả Nguyên Chương đề nghị không dạy bài thơ Viếng bạn cho học sinh vì bài thơ này “đánh thức phần yếu đuối, phản khoa học nép trong tâm não thanh niên”.
 
Thế đấy, một tác phẩm văn học xúc động như vậy nhưng dưới lăng kính u tối của một số người thì rất có thể đây là bài thơ “có vấn đề” chỉ bởi tác phẩm đó được viết theo cách thể hiện khác.
Tự nhiên tôi rón rén đi trên băng mỏng của đại dương chữ nghĩa
 
                                                                                            Bảo Thư

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

“CÒN ĐÂU CÁNH BƯỚM ?”, TƯỞNG NHỚ NGHỆ SĨ NGÂM THƠ HỒ ĐIỆP – Bái viết của Trịnh Anh Khôi



Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu (Có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Tý) sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Bà vào Nam năm 1954. Thi sĩ Đinh Hùng đã phát hiện ra tài năng ngâm thơ thiên phú của bà nên đặt cho nghệ danh Hồ Điệp.
Có thể giải thích cái tên được hàng triệu người yêu mến này: Hồ Điệp nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ngâm của bà nhẹ nhàng, mỏng manh, nhưng lại nhiều mầu sắc như những cánh bướm.
 

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

SAO XÓT XA NHƯ RỤNG BÀN TAY - Đặng Nguyên Triết


Nhà thơ Hoàng Cầm

Trong một nhóm bán sách cũ, có người đang rao bán tờ Sơ yếu lý lịch của thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1992, lúc ông vừa tròn 70 tuổi.
Ông không ghi tên khai sinh Bùi Tằng Việt, mà vẫn ghi Bùi Hoàng Cầm.
Đọc tới dòng ông khai “Từ 1958: Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, mình lặng người một lúc lâu.

Năm 1948, ông viết Bên kia sông Đuống, có hai câu:
 
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc,
Sao xót xa như rụng bàn tay”
 
thì gần nửa thế kỷ sau khi nghĩ về đời mình “Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, ông có xót xa như rụng cả đôi bàn tay?



Trả lời phỏng vấn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê, ông nói:

“Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối. Rồi lặng lẽ mình cũng tự biết là có lẽ khó khăn lắm, thì mình cứ sáng tác để đấy thôi, cho vào ngăn kéo rồi một vài anh em đọc với nhau, chứ không truyền bá đi đâu cả. Xong rồi dần dần thời gian cứ thế kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 88.”
 

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

CẢNH KHÔI HÀI CỦA VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện, Lê Tiên Long

 

MŨ VUA... XOAY NGANG - Lê Tiên Long

Hôm qua, Ninh Bình tổ chức Lễ hội Hoa Lư 2026, truyền hình trực tiếp trên cả VTV1, trong đó có hoạt cảnh sân khấu hoá cảnh Đại Thắng vương (Đinh Bộ Lĩnh) lên ngôi, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt.
Nhưng nhiều người thắc mắc, sao nhà vua đội mũ miện mà mũ lại... xoay ngang. Vì cái mũ miện (còn gọi là mũ bình thiên, vì bên đỉnh mũ trên có cái tấm chữ nhật phẳng, để theo phương ngang nên gọi là "bình thiên", tức trên đầu bằng phẳng) của vua theo quy định sẽ có 12 dải tua kết bằng châu, ngọc ở trước mặt và sau gáy.
Cái dải châu ngọc này để làm gì? Nó như một thứ "rèm" để che mặt vua, khiến bề tôi không được trực tiếp nhìn thẳng "long nhan". Nó cũng khiến ánh mắt của bậc đế vương không nhìn mọi vật quá rõ, quá trực diện, nhằm nhắc nhở người đứng đầu thiên hạ phải giữ thái độ điềm tĩnh, không thiên lệch, không bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời.
Quy chế về mũ miện rất chặt chẽ. Thiên tử có 12 dải tua, vua chư hầu, tước vương có 9 dải, tước công, hầu có 7 dải, tước bá, tử, nam có 5 dải.
Trong ảnh đen trắng bên dưới, các quan nhà Nguyễn ở nước ta trong buổi lễ tế Nam giao đội mũ Miện với 5 dải tua.
Chả hiểu sao đạo diễn sân khấu Lễ hội Hoa Lư lại cho vua Đinh Tiên Hoàng đội mũ... xoay ngang. Tức là để dải tua hai bên... che tai nhà vua.
Quả là khó hiểu.
Cũng có người bảo chỉ là sân khấu hoá ấy mà, vua mặc gì chả được, như đáng lẽ vua đội mũ Miện thì phải mặc áo Cổn, chứ đâu có mặc... áo khoác như trong ảnh. Rồi hoàng hậu vấn khăn, mặc áo kiểu Nhật Bình thời nhà Nguyễn, minh hoạ ấy mà, có hề chi!
Nhưng thời nào thì cũng chả có vua đội mũ Miện với dải tua hai bên tai cả.
Cho nên muốn đầu tư mấy chục nghìn tỷ đồng để chấn hưng văn hoá, mà thiếu kiến thức, trong đó có kiến thức lịch sử, thì cũng khó lắm thay!
                                                                               Lê Tiên Long

*
CẢNH KHÔI HÀI CỦA HAI VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện
 
Nghe nói là hai vị vua nước ta đều được sân khấu hoá trên một sân khấu.


Vua trên thì mũ bình thiên phải quay ngang để nhìn cho rõ mặt. 


Vua dưới thì tự tay cầm tờ “Tế Thiên chiếu” - nhà vua xuống chiếu về việc tế trời, hay đây là bài chiếu tế trời. 

Văn tế là Văn tế, Chiếu là tờ chiếu lệnh vua phát ra. Sao lại vừa tế vừa chiếu vậy?
Vua là thiên tử tức là con trời. Sao lại có ông vua ra bài chiếu tế trời để đọc giữa trời vậy?
                                                                          Nguyễn Xuân Diện

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

NHỮNG CÂY BÚT BỊ BẺ NGÒI…- Dynh Anh

Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không? 

Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây "tội ác" nặng nề hơn cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá".
Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời đau thương của một vài người trong số họ:
 
Doãn quốc Sỹ:


Sau 30/4/75, Thầy - tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn - ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch nhắm vào "biệt kích văn hoá" của chính quyền mới. Thầy bị giam từ 1976  tại trại giam Gia Trung - Tây Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm "Đi" dưới bút hiệu Hồ Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng 5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa".
 

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ VINH, “CON SỐ MỘT SÂU NẶNG” ĐỐI VỚI NHÀ VĂN NHẤT LINH – Trịnh Anh Khôi

 Trong bài này, tôi chỉ xin đề cập đến người phụ nữ đã nhắc, là nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Bà là một người giỏi, đúng; bà có văn tài, đúng nốt, nhưng mối quan hệ và sự góp mặt của bà trong Tự Lực Văn Đoàn đã dấy lên theo năm tháng một câu hỏi: Có phải trong bà là mang tới “ba trong một bóng dáng”, vừa là bạn văn, vừa là người tình, mà cũng là đồng chí của vị chủ soái văn đoàn ấy, là nhà văn Nhất Linh?
Lúc đó gia đình tôi (TAK) còn ở ngôi nhà số 287/8 Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Một buổi chiều 1968, một đôi vợ chồng chở nhau trên chiếc Lambretta đến gặp bố tôi. Người phụ nữ ấy tóc ngắn, đã hơn 40 nhưng vẫn rất đẹp mà lần đầu tôi nhìn thấy, còn chồng bà là họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật; nếu làm thơ, thì là thi sĩ Động Đình Hồ.
... Tôi thấy ông Nhật đến nhà đã mấy lần, và biết ông chơi với bố tôi đủ thân thiết để khi bố tôi in quyển sách thứ ba, là truyện dài Ngục Tối Của Lòng Mình, thì ông đã vẽ bìa cho nó.
 

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

HOÀNG CẦM VÀ “NẾU ANH CÒN TRẺ” - Huỳnh Duy Lộc


Nhà thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922 tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, nhưng quê gốc ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1938 ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đậu tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của ông Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng của Đông y.
 

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

CÔNG BỐ BÚT TÍCH CỦA VŨ ĐÌNH LIÊN VÀ BÀI THƠ KHAI XUÂN “ÔNG ĐỒ 2” - Tần Tần



Nguồn:
https://news.zing.vn/cong-bo-but-tich-quy-cua-vu-dinh-lien-va-bai-tho-khai-xuan-ong-do-2-post1039785.html
 
Bản viết tay bài thơ “Bóng ông đồ” do đích thân nhà thơ Vũ Đình Liên viết khai xuân tặng bạn thơ của mình vừa được công bố.
Mỗi dịp Tết đến xuân về, người ta lại nhớ đến bài thơ Ông đồ của Vũ Đình Liên như một niềm hoài cảm. Trước đây, bài thơ là niềm thương cảm cho những giá trị cũ đang dần mất đi, bị gạt sang rìa đời sống. Đến nay, nhắc tới Ông đồ là nhắc tới những giá trị văn hóa truyền thống cũ. Bài thơ Ông đồ nổi tiếng vậy nhưng ít ai biết Vũ Đình Liên còn có thêm một tác phẩm khác viết về ông đồ.
 

NHẠC SĨ PHẠM DUY KỂ VỀ HOÀN CẢNH SÁNG TÁC “ÁO ANH SỨT CHỈ ĐƯỜNG TÀ”



Cuối năm 1947, tôi từ Việt Bắc (Cao-Bắc-Lạng) xuống Khu Ba (Chợ Đại, Cống Thần) rồi có ý định đi theo Trần Văn Giàu vào Nam chiến đấu. Nhưng khi vào tới Thanh Hóa (Khu 4 - làng Quần Tín) thì tôi gặp tướng Nguyễn Sơn và ở lại đó, gia nhập Ban Văn nghệ của Trung đoàn 304. Tại đây tôi gặp Hữu Loan...
 

Thứ Tư, 28 tháng 1, 2026

ÔNG LÁ BỐI” TỪ MẪN VÕ THẮNG TIẾT - Trinh Anh Khoi


Photo: Thầy Từ Mẫn Võ Thắng Tiết, chủ nhà xuất bản Lá Bối

Trong một bài trước, tôi có kể về mối quan hệ đặc biệt giữa học giả Nguyễn Hiến Lê và “ông Lá Bối” Từ Mẫn để cho ra đời bản dịch vĩ đại của tác phẩm Chiến Tranh Và Hòa Bình. Câu chuyện tiếp theo là diễn ra sau đó - Theo hồi ức của nhà văn Song Thao.
 

HỌC GIẢ TRẦN TRỌNG KIM, NGƯỜI CÓ CÔNG LỚN VỚI VĂN HÓA DÂN TỘC – Thu Hương



Trần Trọng Kim (1883 – 1953) là một học giả, nhà giáo dục, nhà nghiên cứu sử học, văn học, tôn giáo Việt Nam, bút hiệu Lệ Thần, từng làm thủ tướng của chính phủ Đế quốc Việt Nam vào năm 1945. Ông là tác giả của nhiều cuốn sách về lịch sử, văn hóa như Việt Nam sử lược, Việt Nam văn phạm, Nho giáo...