CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

TÔI ĐÃ BIẾT GÌ VỀ NHẤT LINH - Đông Hồ

                                         (Fb Thú chơi sách)

 

                            Chân dung Nhất Linh của danh họa Nguyễn Gia Trí. 
                               Bức họa chưa hoàn tất, bàn tay còn dang dở.


Anh Nguiễn-Ngu-Í,

Chắc rằng anh muốn hỏi tôi về Nhất-Linh; chớ không hỏi tôi về Nguyễn-Tường-Tam. Có như thế thì tôi mới trả lời anh được. Nói như vậy là tôi muốn nhận định phân minh hai lãnh vực trong một nhân-vật. Là tôi chỉ có biết về nhà văn - sĩ Nhất-Linh mà không được biết về nhà chính trị Nguyễn-Tường-Tam.

Tôi có cảm tình với Nhất - Linh, tôi có yêu mến Nhất-Linh, tôi có phán đoán về Nhất-Linh, là tôi nhìn Nhất-Linh ở trong địa hạt văn chương, vì bút hiệu đó xuất hiện như một ngôi sao chói lọi trên nền trời văn học.

Trừ ra hai tác phẩm đầu tay khi mới tập viết để vấn thế là Nho PhongNgười Quay Tơ, ký tên là Nguyễn-Tường-Tam, còn tất cả tác phẩm năm 1932-1933 trở về sau, đều ký bút hiệu là Nhất-Linh, trong sách cũng như trong báo, từ Phong-hóa Ngày-nay ở Hà-nội cho đến Văn-hóa Ngày-nay, tại Sài-gòn hồi gần đây.

Phán đoán về văn nghiệp Nhất-Linh, tôi có hai nhận định này:

1.- Văn trào phúng của báo Phong-hóa, Ngày-nay.

2.- Văn tiểu thuyết của Tự-lực văn-đoàn.

***

KHI CUỒNG TÍN BIẾN CON NGƯỜI THÀNH DÃ THÚ - Henry Quang Vũ



Lịch sử loài người từng chứng kiến không ít thảm họa xuất phát từ sự bạo ngược, nhưng hiếm có bi kịch nào đau đớn và ê chề như thời kỳ "Cách mạng Văn hóa" (1966 – 1976) tại Trung Quốc. Dưới cái mác "cách mạng" cùng khẩu hiệu "Phá Tứ Cựu" (phá bỏ tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, tập quán cũ), một thế hệ thanh thiếu niên bị tha hóa, cuồng tín đã biến thành công cụ trong tay Hồng Vệ Binh. Từ những học sinh, sinh viên mang tri thức, chúng trở thành lũ "dã thú" nhân danh lý tưởng để xé rách nền văn minh hàng nghìn năm, chà đạp lên những giá trị nhân bản tối thiểu nhất của con người: sự tôn trọng đối với người đã khuất.

NGHỀ BIÊN TẬP - Bài viết của Tạ Duy Anh


Theo CXB, mỗi năm có 50 ngàn đầu sách đến tay bạn đọc, qua cầu nối biên tập viên

Những ai từng làm nghề biên tập sách, báo, hoặc có hiểu biết chút ít về nó, sẽ không nỡ để buột ra những lời cay độc, khi nhằm vào các biên tập viên gặp tai nạn. Giờ đây tôi có thể khẳng định nghề biên tập có ba cái nhất hiển nhiên: Chán nhất, hại mắt hại não nhất và nguy hiểm nhất.

Chán vì bản thảo hay hay dở, hấp dẫn hay nhạt nhẽo vẫn cứ phải cắm mặt đọc cho bằng hết.

Hại mắt hại não nhất vì chỉ cần 10 năm đọc biên tập, mắt sẽ giảm thị lực nghiêm trọng bằng 30 năm bình thường, còn não thì rơi vào tình trạng trơ lỳ, mất dần hứng thú và cảm xúc đọc sách, thậm chí sợ đọc sách.

Nguy hiểm nhất vì phạm tội lúc nào không biết.

Tôi chỉ xin kể 5 trường hợp (trong số vài chục trường hợp) nếu tôi lười hoặc thiếu tỉnh táo, tai nạn nghề nghiêm trọng đã úp xuống đầu.

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

MÔ HÌNH ĐẠI HỌC THI TUYỂN VÀ ĐẠI HỌC GHI DANH Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975 – Nguyễn Thy Anh



Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ. Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.

LỪNG LẪY MỘT THỜI: NGUYỄN TẤT NHIÊN, THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH – Phạm Chu Sa


          Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên(thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ "Thiên tai" xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.
Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài "Vì tôi là linh mục" tuyệt hay: 

“Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”
 
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

BÀI THƠ “VIẾNG BẠN” CỦA HOÀNG LỘC ĐÃ TỪNG BỊ PHÊ PHÁN THẾ NÀO - Bảo Thư



“Viếng bạn” được được Hoàng Lộc viết năm 1947 và in trong tập bút ký “Chặt gọng kìm Đường số 4”. Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của một chiến sĩ tên tên là Th vào ngày 8-1-1948 trong trận Bố Củng. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên đồng đội đành phải đào một cái huyệt nhỏ để chôn Th. Nhìn thi thể đồng đội không có áo quan, ai cũng khóc.
 
Năm 1949, tạp chí Văn Nghệ đăng bài thơ này và gây sự xúc động mạnh trong giới văn nghệ sĩ kháng chiến. Cho đến nay "Viếng bạn" được xem là bài thơ hay nhất viết về tình đồng đội, về người liệt sĩ trong kháng chiến.
 
Tuy nhiên, bài thơ này đã từng bị “đánh” tơi bời trong phong trào “Chỉnh huấn – chỉnh quân” trong thập niên 1950. Tháng 12-1953, trên Nội san Giáo Dục số 12 xuất hiện diễn đàn: “Chúng ta cùng thảo luận”, chủ đề xoay quanh nội dung tư tưởng của bài thơ “Viếng bạn”. Khởi xướng mở diễn đàn thảo luận bài thơ Viếng bạn là Nguyên Chương, một cây bút lý luận phê bình kỳ cựu .
Với tựa đề “Nhân giảng bài Viếng bạn: Đả phá óc mê tín” đăng tạp chí Giáo Dục số 12 năm 1953, tác giả Nguyên Chương đưa ra 3 luận điểm phê bình bài “Viếng bạn”:
 
1) Bài thơ Viếng bạn cổ súy tư tưởng phong kiến, mê tín, dị đoan, duy tâm thần bí;
2) Nghệ thuật trong bài thơ Viếng bạn là sáo cũ, giả tạo;
3) Ảnh hưởng của bài thơ Viếng bạn đến học sinh là rất xấu.
 
Để chứng minh “Viếng bạn” là bài thơ “gọi hồn”, mê tín dị đoan, Nguyên Chương thực hiện một cuộc điều tra, khảo sát học sinh tại 3 lớp đã nghe giảng bài thơ Viếng bạn và đặt ra 3 câu hỏi trong cuộc điều tra này là:

- “ Khôn thiêng xin chỉ mặt là thế nào? Có phải linh hồn anh bộ đội chết đó còn sống và khôn thiêng phải không?”
- “ Ai tin rằng sau khi xác thịt chết thì linh hồn còn sống?”
- “ Thế thì em nào sợ ma, tin có ma cứ thành thật cho biết”   
Và tác giả dẫn kết quả điều tra như sau:
a) Ở câu hỏi thứ nhất có một số học sinh trả lời “Linh hồn anh bộ đội ấy khôn thiêng, linh hồn anh còn sống”;
b) Ở câu hỏi thứ hai có 28/ 125 em tin là sau khi chết thì linh hồn còn sống;
c) Ở câu hỏi thứ ba có 92/125 học sinh sợ ma.
 
Đến đây, tác giả bài viết đưa đến kết luận: con em Việt Nam còn mê tín nhiều và cần phải “làm công việc giải độc”. Và việc một tác phẩm như bài thơ Viếng bạn có hiện tượng người sống “đang nói với người chết; hỏi người chết có khôn thiêng thì chỉ mặt kẻ thù” là biểu hiện rõ ràng tư tưởng, tình cảm “phong kiến, duy tâm, thần bí” và “hoen ố màu sắc siêu hình”.
 
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả bài viết cũng phê phán Viếng bạn là bài thơ sáo rỗng, giả tạo. Nguyên Chương dẫn chứng rằng: “Gọi anh chẳng thành lời mà hàm răng dính chặt”. Răng dính chặt thế mà đoạn dưới và đoạn sau anh nói quá nhiều, anh nói rõ ràng lắm. Hình ảnh không thống nhất, ta có cảm tưởng là thơ giả tạo”.
 
Về hệ quả, tác giả cho rằng bài thơ có ảnh hưởng rất xấu đối với thanh thiếu niên: “con số 92/125 kể trên quả là một thương tâm bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong lời nói, trong câu văn. Nếu không đập tan mê tín thì ít nhất đừng gieo rắc mê tín”. Và tác giả cảm thấy “ân hận đã đem bài Viếng bạn giảng cho học sinh trong ngày thương binh- tử sĩ” vì việc giảng dạy bài thơ Viếng bạn không những không đạt được mục đích căm hờn kẻ địch, thương người chiến sĩ hi sinh mà chỉ gieo rắc tư tưởng mê tín dị đoan.
 
Cuối cùng, tác giả Nguyên Chương đề nghị không dạy bài thơ Viếng bạn cho học sinh vì bài thơ này “đánh thức phần yếu đuối, phản khoa học nép trong tâm não thanh niên”.
 
Thế đấy, một tác phẩm văn học xúc động như vậy nhưng dưới lăng kính u tối của một số người thì rất có thể đây là bài thơ “có vấn đề” chỉ bởi tác phẩm đó được viết theo cách thể hiện khác.
Tự nhiên tôi rón rén đi trên băng mỏng của đại dương chữ nghĩa
 
                                                                                            Bảo Thư

"CHỮ QUỐC NGỮ" ? - Nguyễn Chương Mt


Nhà nguyện, nằm trong khuôn viên Tòa Tổng giám mục TGP Sài Gòn. Đây vốn là ngôi nhà của Đức Thầy Cả (Cha Cả) Bá Đa Lộc, được di dời từ vùng Lăng Cha Cả về đây.
 
/1/ Bấy lâu nay chúng ta vẫn quen cách gọi "CHỮ QUỐC NGỮ" là chữ viết dùng để ghi tiếng Việt bằng hệ thống abc Latin.
Thực ra, thời còn dùng CHỮ NÔM thì thứ chữ này đã được gọi là "CHỮ QUỐC NGỮ" - chữ ghi lại quốc âm trong tiếng Việt, để minh định khác với chữ Hán là thứ chữ ghi tiếng của người ở lân bang phương Bắc!
/2/ Đơn cử, gần hơn, vào gần cuối thế kỷ 18 - năm 1774, Đức Thầy Cả Vê-rô (*) soạn sách giáo lý và in ra bằng CHỮ NÔM, mang tựa "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" (     )
Cách gọi "CHỮ NÔM" hoàn toàn KHÔNG có trong âm Hán-Việt của chữ Hán. "Chữ Nôm" (𡦂 ) , ở đây, được gọi là "Chữ Quốc ngữ" (𡦂  ).

Chú ý:  Ồ, sao CHỮ NÔM vẫn có dòng chữ Hán       "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ"?
Trong chữ Hán, CHỈ có âm Hán-Việt, loại bỏ quốc âm của tiếng Việt chúng ta!
Còn CHỮ NÔM: gìn giữ hết thảy quốc âm của tiếng Việt + một số âm Hán-Việt (chữ Hán) được chọn lọc, đã đi vào từ vựng của người Việt.

(*) Hiện nay đã quen với danh xưng "Giám mục", nhưng vào thế kỷ 17, 18 gọi là "ĐỨC THẦY CẢ" (giữ lại cách gọi này để bảo đảm tính chân thực của ngôn ngữ vào từng thời kỳ lịch sử). "Vê-rô", là một cách phiên âm khác, cũng là "Phê-rô" - từ "Pedro".
Có cách CHUYỂN ÂM (không phải phiên âm như "Vê-rô", "Phê-rô") là "Bá Đa Lộc"! Đức Thầy Cả Vê-rô, tức là Đức Thầy Cả (còn gọi "Cha Cả") Bá Đa Lộc.

Cách gọi "Bá Đa Lộc", từ đâu?

Đức Thầy Cả (giám mục) này trước khi đến nước Nam, đã có thời gian dài sống ở Macao. Ở đó, nói tiếng Quảng Đông. Tên thánh của vị này là "Pedro", người Quảng Đông đọc thành /pe-to-lo/, ghi chữ Hán 伯多祿 (ba chữ Hán này, tiếng Quảng Đông đọc /pe-to-lo/).
Âm Hán-Việt của 伯多祿 là "Bá Đa Lộc"! Tên thánh của Đức Thầy Cả (giám mục) là "Bá Đa Lộc" = "Pedro" (Phê-rô).
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

NGỌT LÀNH – Thơ Lê Kim Thượng


  


Ngọt  Lành
 
1.
Quê hương đẹp mãi trong mơ
Tình quê gắn với tuổi thơ xa vời
Quê nhà đẹp mãi ngàn đời
Nhớ ngày xưa cũ rong chơi trên đồng…
Trời xanh, xanh thẳm mênh mông
Bức tranh Thủy Mặc dòng sông, con đò
Bờ sông đợi, bến nước chờ
Có người viễn xứ bên bờ nhớ xưa
Quê nhà mưa nắng hai mùa
Thảo thơm hạt gạo nắng mưa ngọt lành
Nhà nghèo vách đất, mái tranh
Nồi cơm chín tới, bát canh đậm đà
Cơm chiều mắm muối ngày qua
Bình yên, thanh đạm chan hòa vui tươi
Tri âm chén rượu, nụ cười
Xưa nay ai cũng quý người thủy chung…
 
2.
Cuộc đời có có, không không
Còn chăng chỉ một tấm lòng yêu quê
Bình thường mà lắm đam mê
Để người xa xứ sơn khê ưu phiền
Cuộc đời điên đảo, đảo điên
Về quê tìm lại một miền thảnh thơi
Mong gì tìm được một nơi
Xóa đi phiền muộn một đời chênh chông…
Con về nhà đã vắng không
Nhớ hình bóng Mẹ trong lòng xót đau
Mẹ đi mãi mãi về đâu
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan
Bàn thờ lặng lẽ khói nhang
Lòng con quặn thắt bàng hoàng ngu ngơ
Nghẹn ngào nhớ Mẹ ngày thơ
Rưng rưng nước mắt bơ vơ cuối đời…
 
              Nha Trang, tháng  07. 2026
                     LÊ KIM THƯỢNG

MƯA Ở NGOÀI KIA, RU GIẤC CHIÊM BAO, CÓ NƠI NÀO HƠN QUÊ HƯƠNG - Thơ Tịnh Bình


   

 
MƯA Ở NGOÀI KIA...
 
Những bước chân gõ trên mái nhà
Tội nghiệp mưa đi lang thang hoài trên phố
Không ngừng hát mãi giai điệu cũ rích
Đêm mơ hồ suy tư
Chiếc bóng rơi trên vách khuya
Dỗ dành giấc mơ mắt ướt
 
Câu thơ lạnh vùi vào ngực nóng
Vịn vào đâu nỗi lấp lánh buồn
Bức tường câm vờ chẳng nghe lời nức nở
Tiếng dỗi hờn mưa gọi ở ngoài kia...
 
Những giấc mơ lạnh lùng có mặt
Ta như kẻ ngoài cuộc dửng dưng quan sát
Bối rối nhịp mưa
Chiếc bóng cười khan
Ngỡ thấy mình đâu đó
Lặng im tiếng vỗ một bàn tay...