CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Hoàng Đằng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Hai, 13 tháng 11, 2023

TÔI ĐỌC HỒI KÝ “BỤI CÁT CHÂN MÂY” CỦA ĐẠO DIỄN LÊ CUNG BẮC (1946 – 2021) – Hoàng Đằng



Gia đình anh Lê Cung Bắc gởi tặng tôi tập hồi ký “BỤI CÁT CHÂN MÂY” qua Ban Liên Lạc cựu học sinh trường Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị.
 
Tôi đã nhận sách cách đây mấy ngày.
Tôi được tặng vì tình Nguyễn Hoàng - Lê Cung Bắc có học Nguyễn Hoàng từ Đệ Thất đến Đệ Tam (lớp 6 đến lớp 10 – 1959 - 1963) và tôi có dạy Nguyễn Hoàng từ 1965 đến 1970.
Tôi lấy làm tự hào và trân quý quà tặng.
Tôi đọc và viết ra mấy dòng này.

Thứ Ba, 5 tháng 9, 2023

THỬ ĐOÁN ĐỌC VĂN BIA BẰNG HÁN VĂN TÌM THẤY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ - Hoàng Đằng

 


Tôi thấy trên trang facebook của Nguyễn Duy Ái có thông tin:

“Những năm làm nghề xây dựng trên địa bàn thị xã Quảng Trị, tôi lại cơ duyên được gặp khá nhiều ngôi mộ của liệt sĩ, tử sĩ, quan lại, nhân dân quá cố... Trong đó có ngôi mộ của Ngài Hàn Lâm Viện Thị độc, bia dựng năm 1935.
Tôi đã gửi thư về địa phương, qua nhiều kênh, ở Quảng Nam đã có thư xác nhận là Tổ Tiên của họ, nhưng sau đó thấy không liên hệ tiếp.
Các Liệt Sĩ thì phối hợp với Chính Quyền Địa Phương đưa lên Nghĩa Trang thị xã Quảng Trị.
Có hai tử sĩ thì người nhà đã xác nhận đưa về quê.
Hằng năm, trước mùa Vu Lan, ngày 10/7, gia đình tôi lên viếng mộ, vệ sinh và tổ chức hiệp kỵ cho các vong linh.
Phật dạy: Chúng sanh là cha mẹ của nhau, nên hữu duyên nầy chắc là những người yêu thương trong quá khứ.
Nhân mùa Vu Lan, chúng tôi luôn khấn nguyện cầu mong các vong linh sớm tái sanh về Miền Tịnh Quốc”.
 
Dưới những dòng thông tin, có ảnh tấm bia mộ “Ngài Hàn Lâm Viện Thị Độc” và ảnh chụp phần phiên âm của ai đó (có lẽ do ông Nguyễn Duy Ái cây nhờ) từ chữ Hán ra âm Hán Việt viết bằng chữ Quốc Ngữ, xin gọi là bản phiên âm văn bia 1.
 
I- BẢN PHIÊN ÂM VĂN BIA 1

 
“CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN VẠN TANG XÃ HÀN LÂM VIỆN THỊ ĐỘC

SUNG ĐIỀN KHÂM KHOA HOÀNH NHI TƯ HOÀNG SANH PHỦ QUÂN CHI MỘ
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM NHU NHÂM QUẢNG NAM TỈNH PHÚ BÌNH XÃ HƯƠNG XUÂN BÁI CHI

KHẢI ĐỊNH ẤT HỢI NIÊN NHUẬN TỨ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT (1935).
 
Phần phiên âm tối nghĩa vì (1) người viết phiên âm nghe người đọc âm Hán Việt các chữ Hán không rõ nên viết sai nhiều chữ và (2) bản văn bia bằng chữ Hán khắc không rõ, lại lâu ngày bị lu mờ, phải vừa đọc vừa đoán.
 
II- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 2

Trên facebook, BS. Nguyễn Văn Nguyên đã đọc và phiên âm lại, kèm phần dịch nghĩa:
 
“ĐẠI NAM CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH, NGHI LỘC HUYỆN, VẠN TRANG XÃ, HÀN LÂM VIỆN KIỂM THẢO.

NGUYÊN QUẢNG NAM TỈNH TẤN THI HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ HÀN SINH, PHỦ QUÂN CHI MỘ.
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM LỤC NHÂN QUẢNG NAM TỈNH, PHÚ BÌNH XÃ, PHAN THỊ XUÂN BÁI CHÍ

KHẢI ĐỊNH ẤT SỬU NIÊN, NHUẬN TỨ NGUYỆT, NHỊ THẬP LỤC NHẬT
 
Tạm dịch như sau:
 
Đại Nam (tên nước ta), chồng quá vãng, tỉnh Nghệ An, huyện Nghi Lộc, xã Vạn Trang, là Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo
Nguyên quán Quảng Nam, Tấn Thi Hoàng Trúc Nhị, tự là Hàn Sinh, là mộ của phủ quân. 

Chánh thất phẩm Lục Nhân, tỉnh Quảng Nam, xã Phú Bình tên Phan Thị Xuân bái ghi.
Năm Ất Sửu triều vua Khải Định, tháng tư nhuận, ngày hai mươi sáu.”
 
BS. Nguyễn Văn Nguyên đã tìm thấy một số điều xét ra không hợp lý trong bản phiên âm trước:
 
1/ Thiếu chữ trên bia.
2/ Chức Kiểm Thảo Quan của Hàn Lâm Viện triều Nguyễn ngang hàng Thất phẩm. Thị Độc ngang hàng tứ phẩm.
3/ Người dưới mộ tên là Hoàng Trúc Nhị, Tấn Thi là làm bài được tấu cho vua phong hàm, không phải thi cử (hay còn gọi là ngự chế). Ông có tên tự là Hàn Sinh.
4/ Năm Ất Sửu 1925 là năm nhuận, Ất Hợi 1935 không nhuận.
5/ Vua Khải Định băng hà 1925. Niên hiệu Khải Định phải là khi vua còn tại vị. Năm 1935 là vua Bảo Đại.”
Phần phiên âm và dịch nghĩa của BS. Nguyễn Văn Nguyên tương đối đã soi rõ nhiều thông tin trong văn bia; tuy nhiên, chưa phải là tất cả.
 
III- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 3
 
Vì vậy, tôi muốn góp chuyện.
Qua cô bạn đồng môn, đồng khóa của tôi – Võ Hồng Phi - ở Viện Hán Học Huế ngày xưa, tôi nhờ ông Đỗ Chiêu Đức, người mà đọc trên mạng tôi biết có trình độ Hán Văn cao, đọc giùm.

Và đây là ý kiến của ông Đỗ Chiêu Đức:
Bia đá từ năm Ất Mão 乙卯 (1915) đời vua Khải Định, hơn một trăm năm rồi, chỗ bị mẻ sứt. lại được tô bù bằng xi-măng, nên ... Em (từ ông Đức xưng với cô bạn đồng môn đồng khóa của tôi ở Viện Hán Học Huế 1960 – 1965) đọc tới đâu thì tính tới đó thôi nghen !
Em sẽ đọc từ TRÊN xuống DƯỚI và từ hàng phía TAY PHẢI trước, rồi sang các hàng TAY TRÁI. Tất cả gồm có 4 hàng như dưới đây:
 
1. 大南故夫,乂安省,宜祿縣,萬莊社,翰林院檢討。
Đại Nam cố phu, Nghệ An Tỉnh, Nghi Lộc huyện, Vạn Trang xã, Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo.
Tạm dịch:
Chồng cũ (đã chết), ở tỉnh Nghệ An, huyện Nghi Lộc, Xã Vạn Trang, (chức vụ) là Kiễm Thảo của Viện Hàn Lâm.
 
2. x  x  廣南省,邏譯,黃行二字,語生,府君之墓。
x  x  Quảng Nam tỉnh, La dịch, Huỳnh Hành nhị tự, Ngữ Sinh, Phủ Quân chi mộ.
 
Tạm dịch:

Tỉnh Quảng Nam, LA DỊCH không hiểu là nghĩa gì, Hai chữ Huỳnh Hành,                    
NGỮ SINH không hiểu nghĩa, mộ của Người tên Phủ Quân

3. 正記六品录人,廣南省,富平社,潘氏春輝誌。
Chính ký Lục phẩm lục nhân, Quảng Nam tỉnh, Phú Bình xã, Phan Thị Xuân Huy chí.

Tạm dịch:

Người ghi lại chính là người có hàm Lục Phẩm, ở tỉnh Quảng nam, Xã Phú Bình,
Phan Thị Xuân Huy lập mộ chí.
 
4. 啟定乙卯年閏四月二十六日。
Khải Định, Ất Mão niên, Nhuận Tứ Nguyệt, Nhị thập lục nhật.

Tạm dịch:
Đời vua Khải Định, năm Ất Mão (1915), ngày 26, Tháng Tư nhuần.

Em chỉ đọc được có vậy thôi. Mong Chị thông cảm!
                                                               Nay kính,
                                                           Thầy Đồ Dõm
                                                          Đỗ Chiêu Đức”
 
Tôi xin cảm ơn ông Đỗ Chiêu Đức đã chịu khó, bỏ thì giờ giúp tôi.

 V- BẢN PHIÊN ÂM VÀ DỊCH NGHĨA VĂN BIA 4

Vậy là đã có 3 vị phiên âm văn bia. Giờ, việc tìm hiểu ý của văn bia trên xin được xem như một buổi hội luận.
Sau khi đọc ý kiến của các vị thức giả, tôi cũng muốn tự phiên âm và dịch nghĩa – lẽ dĩ nhiên, vừa nhận dạng mặt chữ vừa đoán vì chữ không còn rõ ràng.

Và đây là bản phiên âm của tôi:
 
ĐẠI NAM CỐ PHU NGHỆ AN TỈNH NGHI LỘC HUYỆN VẠN TRANG XÃ HÀN LÂM VIỆN KIỂM THẢO

NGUYÊN QUẢNG NAM TỈNH THÔNG DỊCH HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ NGỮ SINH PHỦ QUÂN CHI MỘ
 
CHÁNH PHỐI THẤT PHẨM NHU NHÂN (xem chú thích 1 ở dưới) QUẢNG NAM TỈNH PHÚ BÌNH XÃ PHAN THỊ XUÂN BÁI CHÍ

KHẢI ĐỊNH ẤT SỬU NIÊN NHUẬN TỨ NGUYỆT NHỊ THẬP LỤC NHẬT

Dịch nghĩa:

Mộ của chồng đã mất tên HOÀNG TRÚC NHỊ (xem chú thích 2 ở dưới) tự NGỮ SINH (người học về ngôn ngữ), chức Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo, người xã Vạn Trang, huyện Nghi Lộc, tỉnh Nghệ An, nước Đại Nam (tên nước Việt Nam kể từ triều Minh Mạng), nguyên làm thông dịch ở tỉnh Quảng Nam.
 
Bà Phan thị Xuân, người xã Phú Bình tỉnh Quảng Nam, vợ chính của quan Thất Phẩm lạy ghi.
Ngày 26/Tư nhuận/năm Ất Sửu (xem chú thích 3 ở dưới) đời vua Khải Định (16/6/1925)
 
V- TẠI SAO CÓ NGÔI MỘ NÀY Ở TỈNH LỴ QUẢNG TRỊ

Ông Nguyễn Duy Ái kể trường hợp phát hiện ngôi mộ có tấm bia:

 “… Khi em thi công trường Thanh niên Dân Tộc (hiện nay, trước mặt trường Trung Học Phổ Thông thị xã, trước đây là trường Nguyễn Hoàng) thì gặp 3 cái, tức là khu vực sau bến xe Nguyễn Hoàng ngày xưa đó anh. Rồi tất cả em quy về nghĩa địa thị xã Quảng Trị, khu vực em đặt mộ nhìn ra hồ Tích Tường”.

Mộ ngài Hàn Lâm Viện Kiểm Thảo tìm thấy ở tỉnh lỵ Quảng Trị, nhưng trong văn bia không có thông tin Ngài giữ chức vụ gì trong chính quyền tỉnh Quảng Trị mà chỉ nói Ngài nguyên làm thông dịch ở tỉnh Quảng Nam.

Tôi đoán khi học hành xong, còn rất trẻ, từ quê tỉnh Nghệ An, Ngài được bổ nhiệm vào làm việc tại tỉnh Quảng Nam.
Ở tỉnh Quảng Nam, Ngài lấy vợ là bà Phan thị Xuân người xã Phú Bình huyện Quế Sơn.
Hai vợ chồng đem nhau từ Quảng Nam về thăm quê Nghệ An. Trên đường, đến Quảng Trị, có thể Ngài bị tai nạn gì đó hay bệnh đau đột ngột và qua đời. Đường sá xa xôi, bà Phan thị Xuân phải chôn chồng, lập mộ, dựng bia ở tỉnh lỵ Quảng Trị.

Nguyễn Duy Ái nói là đã thông báo vô Quảng Nam, có người nhận là thân nhân của Ngài, nhưng sau đó, họ cắt liên lạc.
Như thế, người nhận thân nhân ấy không phải thuộc trực hệ của Ngài, nói rõ ra không phải con cháu của Ngài; biết đâu Ngài và bà Phan thị Xuân chưa có con!
 
V- THÔNG ĐIỆP NHẮN GỞI
 
Qua đọc mấy chục chữ Hán trên văn bia, mỗi người đọc, đoán mỗi khác.
Việc đọc và hiểu Hán Văn không phải dễ.
Chuyện chồng của Trưng Trắc có tên Thi Sách hay Thi hiện nay đang rối; THI SÁCH THÊ TRƯNG TRẮC, xưa hiểu: Vợ Thi Sách là Trưng Trắc, nay có nhà sử học hiểu: Thi lấy vợ là Trưng Trắc.

Chuyện tờ di chúc chỉ mấy chục chữ mà ý hiểu 2 cách khác nhau hoàn toàn:
DƯ THẤT THẬP TUẾ SINH ĐẮC NHẤT NAM TỬ NHI PHI NGÔ TỬ DÃ KỲ GIA TÀI GIAO DỮ TẾ NGOẠI NHÂN BẤT ĐẮC XÂM TRANH

Người viết di chúc muốn quan xử việc sau này hiểu là:

Ta bảy mươi tuổi sinh được một con trai mà PHI là con của ta; gia tài của ta giao cho nó; rể là người ngoài không được vào giành; chàng rể của người viết di chúc thì hiểu: Ta bảy mươi tuổi, sinh được một con trai nhưng không phải con ta; gia tài của ta giao cho rể; người ngoài không được vào giành.
 
Ấy là chưa nói đến chữ trên bia, trên trụ các công trình thờ tự, chữ bị sứt mẻ, khắc sai do trình độ của người khắc, trong các tài liệu qua thời gian chữ phai mờ hay bị ẩm ướt, mối mọt rỉa ráy, bào mòn …
 
Tôi thấy hiện nay trong cộng đồng không còn mấy người biết chữ Hán, hiểu Hán Văn rành rẽ nữa.
Vì vậy, những tài liệu gì bằng Hán Văn mà tiền nhân để lại thì xem như chuyện đã rồi, còn hiện tại và tương lai, có gì thì nên viết bằng chữ Quốc Ngữ.
Ấy là thông điệp tôi muốn nhắn gởi qua bài viết này.
 
                                                            01/9/2023 (17/Bảy/Quý Mão)
                                                                            Hoàng Đằng

PHẦN CHÚ THÍCH:
 
(1) Thụy hàm dành cho các phu nhân
Năm Minh Mạng 7 (1826), vua Minh Mạng ban lệnh chuẩn định việc phong ân sung thụy hàm cho phu nhân (nếu chỉ một vợ) hoặc các phu nhân (nếu nhiều vợ) của các quan viên. Thụy hàm này không phân biệt trật chánh tòng hoặc ban văn võ, được chuẩn định như sau:

Vợ quan Nhất phẩm: Phu nhân (夫人);
Vợ quan Nhị phẩm: Phu nhân (夫人), sau đổi Đoan nhân (端人)
Vợ quan Tam phẩm: Thục nhân (淑人);
Vợ quan Tứ phẩm: Cung nhân (恭人);
Vợ quan Ngũ phẩm: Nghi nhân (宜人);
Vợ quan Lục phẩm: An nhân (安人);
VỢ QUAN THẤT PHẨM: AN NHÂN (安人), sau đổi NHU NHÂN (柔人)
Vợ quan Bát phẩm: Nhụ nhân (孺人), sau đổi Cẩn nhân (謹人)
Vợ quan Cửu phẩm: Nhụ nhân (孺人)
                                              
(Thông tin do Bảo Lâm cung cấp)

 (2) Ngoài tên Hoàng Trúc Nhị do BS. Nguyễn Văn Nguyên đoán dịch, Ngài trong văn bia cũng có thể là tên Hoàng Trúc hay Hoàng Hành vì chữ TRÚC   và chữ HÀNH    gần giống nhau và cụm từ HOÀNG TRÚC NHỊ TỰ NGỮ SINH có thể hiểu là Hoàng Trúc có 2 chữ  tự 2 là Ngữ Sinh.
(3) Phải là năm Ất Sửu – 1925 vì năm này có tháng Tư nhuận (theo LỊCH THẾ KỶ XX, nhà xuất bản Văn Hóa) và là năm cuối niên hiệu Khải Định (1916 – 1925).

Thứ Bảy, 8 tháng 7, 2023

MẤY Ý KIẾN VỀ TÁC GIẢ BÀI THƠ “KHÓC BẰNG PHI” – Hoàng Đằng

 
                                 
Vua Tự Đức (1847- 1883)


KHÓC BẰNG PHI
 
Ới Thị Bằng ơi đã mất rồi!
Ới tình, ới nghĩa, ới duyên ôi!
Mưa hè, nắng chái, oanh ăn nói,
Sớm ngõ, trưa sân, liễu đứng ngồi.
Đập cổ kính ra, tìm lấy bóng,
Xếp tàn y lại, để dành hơi.
Mối tình muốn dứt càng thêm bận,
Mãi mãi theo hoài cứ chẳng thôi.
 
Tác giả bài thơ “KHÓC BẰNG PHI”, trong sách giáo khoa văn học, là vua Tự Đức (sinh 1829 – mất 1883; lên ngôi năm 1847).
 

Chủ Nhật, 9 tháng 4, 2023

“HOÀNH SƠN NHẤT ĐÁI, VẠN ĐẠI DUNG THÂN” – Hoàng Đằng


Tác giả Hoàng Đằng

Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626) trong địa bàn huyện Triệu Phong tỉnh Quảng Trị được xếp hạng “Di tích lịch sử quốc gia” vào năm 2018.
 
Baoquangtri.vn ngày 30/3/2023 đưa tin UBND tỉnh: “Phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch bảo quản, tu bổ, phục hồi và phát huy giá trị di tích lịch sử quốc gia “Các điểm liên quan đến dinh chúa Nguyễn (1558 – 1626).”
 
“Thông qua quy hoạch này, xác định các nhóm dự án hoàn thành, nhóm dự án ưu tiên trong giai đoạn trung hạn 2023 – 2025, 2026 – 2030 và tầm nhìn đến 2050 …”
 
Trong đó, “… mục tiêu dài hạn là bảo tồn, tôn tạo, phục hồi các yếu tố mang thuộc tính lịch sử gốc của di tích, đồng thời tạo ra một không gian lưu niệm lịch sử nhằm tôn vinh, tưởng niệm về thời kỳ lịch sử các Chúa Nguyễn cũng như tạo ra một khu du lịch mang tính chất lịch sử - văn hóa để kết nối với các di tích lịch sử hiện có ở vùng phụ cận, làm đa dạng, phong phú hơn sản phẩm du lịch Quảng Trị…”
 

Thứ Năm, 23 tháng 3, 2023

ĐÔI DÒNG TƯỞNG NHỚ GIÁO SƯ NGUYỄN THẾ ANH (1936 – 2023) – Hoàng Đằng

 
Ảnh mượn trên mạng: GS. Nguyễn Thế Anh lúc trẻ và lúc già
 
Trên facebook, tin loan GS. Nguyễn Thế Anh qua đời hôm 19/3/2023, lòng tôi dậy lên nỗi bồi hồi thương nhớ.
 
Tôi có may mắn thụ giáo với Thầy năm học 1965 – 1966 ở chứng chỉ “Sử Việt Nam và Đông Nam Á” tại Đại Học Văn Khoa Huế. Tiếc là do điều kiện, hoàn cảnh riêng, tôi phải bỏ dở việc học.
 
Tôi tìm trên mạng một số bài viết về Thầy để viết nên những dòng này, xem như đốt nén hương lòng vọng bái tiễn đưa Thầy về nơi an nghỉ ngàn thu.
 

Thứ Tư, 22 tháng 2, 2023

MỪNG TUỔI 70 – Nhã My cùng quý thi hữu


 
      Ảnh Nhã My , Huỳnh Tâm Hoài & Ac Nguyễn Hữu Tân (Cali 2022)


MỪNG TUỔI 70
 
Mới đó mà nay bảy chục rồi
Thời gian lặng lẽ cứ buông trôi
Dòng đời sóng gió qua mau quá
Thế cuộc u hoài cũng vậy thôi
Xuân tới đếm thêm màu tóc bạc
Ngày qua tăng mãi sắc da mồi
Cầu mong sức khoẻ an lành đến
 Hạnh phúc bên nhau miệng mỉm cười
 
Nhã My
 
 
BÀI HOẠ:
 
 
HẠNH PHÚC TUỔI 70
(Tặng NM)
 
 
Hạnh phúc yêu thương với nụ cười
Dẫu cho tóc bạc lẫn da mồi
Tình già nồng ấm như còn trẻ.
Bóng xế hoàng hôn vẫn sáng tươi.
Thức giấc năm canh không lẻ bóng
Dìu nhau sáu khắc mãi chung đôi
Kề bên cùng ngắm hoa bừng nở
Xuân đến càng thêm đẹp cuộc đời
 
Huỳnh Tâm Hoài

Thứ Năm, 13 tháng 8, 2020

NỖI NIỀM KHI THẤY LẠI ẢNH GIẾNG LÀNG - Hoàng Đằng


                               
                           Tác giả Hoàng Đằng


NỖI NIỀM KHI THẤY LẠI ẢNH GIẾNG LÀNG


Tình cờ tôi gặp bức ảnh trên mạng. Bức ảnh nằm trong album ảnh tỉnh Quảng Trị trước năm 1975. Ảnh đa số do binh sĩ hoặc nhà báo Mỹ chụp. Tôi nhận ra ngay đấy là bức ảnh cái giếng nước của làng tôi. Bao kỷ niệm vui, buồn về mảnh đất làng, về lịch sử làng, về bà con dân làng hiện về.


Thứ Bảy, 25 tháng 4, 2020

KỶ NIỆM NGÀY TÔI ĐỔI NGHỀ - Hoàng Đằng


                           
                                               Tác giả Hoàng Đằng


                      KỶ NIỆM NGÀY TÔI ĐỔI NGHỀ
         (Bài viết này xem như lời thăm hỏi của tôi gởi vào trong ấy)

Tháng 4/1974, tôi là nhà giáo thuộc sở học chánh Quảng Trị “theo đoàn lưu dân” vào khẩn hoang lập ấp ở khu Láng Gòn tỉnh Bình Tuy.
Tôi trình diện Sở Học Chánh tỉnh Bình Tuy để mong được bố trí dạy ở một trường nào đó thuận tiện.

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM - Hoàng Đằng


     
              Một dãy lầu của trường trung học Nguyễn Hoàng 
              Quảng Trị trước 1975


      TIẾT VĂN KÉO DÀI 46 NĂM 
                                             Hoàng Đằng                             

Năm nay (2013), chiều 15/11, tôi được nhóm học sinh cũ Nguyễn Hoàng – Quảng Trị khóa 1963 – 1970 mời dự họp mặt chào mừng Ngày Nhà Giáo Việt Nam (20/11) tổ chức tại tư gia anh Đinh Quang Tạo ở 228 Lý Thường Kiệt – thành phố Đông Hà.
Bên ngoài, trời mưa nặng hạt. Từ Thừa Thiên-Huế vô tới Bình Định, lũ lụt rất lớn. Lớn do mưa nhiều, mưa to, do rừng rú đã mất nhiều độ che phủ và do các đập thủy lợi, thủy điện xả nước vì sợ vỡ.
Căn phòng không lớn lắm được trang hoàng cẩn thận: banderole, lẵng hoa, hệ thống âm thanh, đàn organ. Bốn chiếc bàn tròn được xếp ngăn nắp kèm ghế nhựa, cứ mỗi bàn 10 ghế.
Người tham dự, ngoài khoảng 30 anh chị em là chủ, có một số khách: về thầy cô giáo có thầy Đỗ Tư Nhơn, thầy Hoàng Đằng, về đại diện ban liên lạc Nguyễn Hoàng tại Quảng Trị có anh Nguyễn Lớn, anh Nguyễn Văn Hoàng, chị Lê thị Dũng, về đại diện các khóa bạn có anh Văn Mạnh, anh Đoàn Văn Tầm, anh Lê Đình Phiến. Tất cả mọi người ngồi xây quanh đầy cả 4 bàn.
Anh Đinh Quang Tạo, một cây văn nghệ có tiếng của Nguyễn Hoàng xưa, đóng vai MC. Chương trình họp mặt chia 2 phần rõ rệt:

TỪ TRÒ CHƠI ĐÁ DẾ TRẺ CON ĐẾN TRÒ CHƠI CHỌI CHÓ NGƯỜI LỚN - Hoàng Đằng


          
                               Tác giả Hoàng Đằng


            TỪ TRÒ CHƠI ĐÁ DẾ TRẺ CON 
            ĐẾN TRÒ CHƠI CHỌI CHÓ NGƯỜI LỚN                                                                                        Hoàng Đằng

Bây giờ đang là tháng 2 Âm Lịch, khoảng một tháng nữa, lúc sáng tinh mơ, ai có dịp đi ra đồng, đều nghe được tiếng dế vang lên chỗ này chỗ nọ.
Thuở trước, ở quê lão, trong những trò chơi trẻ con, có trò “đá rế” (rế là tiếng quê lão chỉ con dế). Dế đực mới đá nhau, dế cái thì không. Dế đen gọi là dế mọi, dế vàng gọi là dế lửa, dế có màu giữa đen và vàng gọi là dế pha.  


           

Bọn trẻ làng, cứ trời hửng sáng, chạy ra đồng, lần theo tiếng kêu tìm bắt dế. Dế bắt về được thả vào một hộp rộng; trẻ dùng một cái que đót nhỏ quét nhẹ vào miệng; dế mở rộng 2 càng hàm ra, căng 2 cánh trên lưng, xát kèn kẹt vào nhau, tạo thành tiếng kêu “reng reng” rất vui tai. Nếu trong hộp có 2 con đều được kích động như thế, chúng sẽ xáp đầu đấu. Khi thì húc nhau, con mạnh húc con yếu văng lui, khi thì giao hàm, cắn nghiến nhau. Con thua bỏ chạy, con thắng hùng dũng vừa chạy lui chạy tới, vừa cất tiếng “reng reng”. Thấy cũng “đã mắt”. Lũ trẻ phố thị muốn chơi đá dế, phải mua. Mỗi mùa dế, nhiều trẻ thôn quê kiếm được khá tiền, có thể may được quần áo, sắm được sách vở.



Đến tuổi thiếu niên, lão phải giúp đỡ cha mẹ trong công việc đồng áng. “Sáng đi trường, chiều lại theo trâu” (hay bò). Nhà lão nuôi trâu bò để cày kéo trong việc làm nông và sinh lợi để chi phí việc học hành của lão. Trong đàn trâu bò nhà, luôn có con đực nổi.
Bò đực nổi hay trâu đực nổi là những con có độ tuổi khoảng từ 4 đến 6, cổ to, riêng bò thì nổi u lớn giữa cổ và lưng


       
                                Bò đực nổi (ảnh mượn từ inernet)


Bò và trâu đực nổi giữa nhà này và nhà khác, giữa làng này và làng khác ra đồng cỏ thường đánh nhau do tranh đồng, tranh vai trò thủ lãnh đàn hay do tranh gái (bò hay trâu cái trong kỳ “dọi đực” – trứng rụng, muốn được “cọ” để mang thai). Lão chứng kiến nhiều vụ trâu, bò đánh nhau rất oanh liệt và kéo dài. Con nào, sau trận đấu, dù hơn hay thua, đều mang thương tích ở đầu, ở cổ, ở mắt, ở tai.
Dế đá nhau là một trò chơi trẻ con và sau trận đá, lão chưa hề thấy con nào mất mạng. Bò, trâu đánh nhau ngoài đồng chỉ là một trong những sinh hoạt tự nhiên của muôn loài trong cuộc cạnh tranh sinh tồn.
Chuyện lão muốn bàn ở đây có khác.  Loài vật bị con người bắt đá, đánh, chọi, cắn nhau đến chết để mua vui.

Chọi gà:
Gà được nuôi trong mỗi gia đình nông thôn Việt Nam để lấy thịt hay lấy trứng. Gà đi kiếm ăn trong môi trường tự nhiên, để giành phần, gà thường hay đá nhau. Khác với loài dế, gà mái cũng đá nhau. Gà mái gặp nhau, nếu không ưa ý nhau hay tranh chấp gì đó, hai con xông vào nhau, dùng mỏ mổ nhau vài cái, con thua bỏ chạy, con hơn chẳng thèm đuổi theo nhiều. Gà trống thì khác, hai con thấy nhau từ xa đã cất tiếng gáy, rồi tiến lại gần nhau, xáp la cà, cắn xé nhau dữ dội, con thua bỏ chạy, con thắng rượt theo nhiều vòng, rồi nhảy lên chỗ cao đứng, đập cánh, cất tiếng gáy “cô cô cồ”.
Một đàn gà chỉ chấp nhận một con gà trống làm thủ lãnh, gà mái có thể sống chung với nhau, nhưng gà trống thì không. Ngay cả lứa gà trống cùng một mẹ cũng đá nhau hoài để chọn ra con đứng đầu. Từ đấu đá nhau trong môi trường tự nhiên, gà được lựa giống, nuôi dưỡng chuyên dùng vào việc chọi để mua vui cho con người.

          

Loại gà chọi đấu với nhau rất dai, máu me đỏ cả mồng, cả đầu, thậm chí máu chảy rỉ, lông xơ tước tung tóe, rơi vãi. Qua chọi gà, trò đánh bạc bằng hình thức cá độ bày ra. Tuy nhiên, trò chơi đá gà trông ít hồi hộp và người xem ít có cảm giác rùng rợn; còn những loại trò chơi chọi dưới đây trông mới khủng khiếp.

Chọi trâu:
Từ môi trường tự nhiên, trâu đánh nhau đã được con người tổ chức nhằm mua vui. Để long trọng hóa, linh thiêng hóa, và để thu hút nhiều khán giả với mục đích thu lợi, con người dựng thành lễ hội – Lễ Hội Chọi Trâu.
Và mới đây (12/9/2013) Lễ Hội Chọi Trâu Đồ Sơn Hải Phòng được công nhận là là Di Sản Văn Hóa Phi Vật Thể Quốc Gia. Giáo sư Hà Văn Thịnh đã lên tiếng phản bác sự công nhận này; ông viết trong bài “Chọi trâu có nên là di sản văn hóa cấp quốc gia?” như sau: “... Lễ hội chọi trâu Đồ Sơn đã có nhiều năm trước và mới phục hồi 24 năm nay là chuyện của Đồ Sơn; nâng nó lên tầm quốc gia thì lại hoàn toàn là chuyện khác. Bởi nhân danh văn hóa để thúc đẩy thêm cho tính phi văn hóa trượt dài là điều từ cổ chí kim chưa thấy bao giờ!”.

     

Đúng vậy, văn là vẻ đẹp, hóa là biến đổi. Chỉ được gọi là văn hóa những gì tạo ra biến đổi để chất lượng cuộc sống ngày càng tốt hơn. Văn hóa hướng con người đến chân, thiện, mỹ; chọi trâu trong lễ hội không còn là chân, nhất định không là thiện, nhất định không là mỹ. Trong sân chọi, 2 con trâu không thù ghét gì nhau, không tranh giành nhau bất cứ gì bị con người thúc; chúng dùng sức đẩy nhau, dùng sừng đâm nhau khiến mình mẩy bị thương tích nặng nề. Con thua không có đường thoát nhanh, đảo lui đảo tới nhiều vòng giữa sân. Thậm chí, trong quá trình húc nhau, có con phải chết ngay ở trận tiền. Mà không chết vì chiến trận phi lý như nói trên, cũng chết vì bàn tay con người. Trâu thắng, trâu thua đều bị đem mổ thịt bán với giá cao cho người mua về ăn lấy “hên” !!! Thế thì văn hóa gì nhỉ!

Chọi chó:
Ở xứ ta, ngày trước, nhiều gia đình nuôi chó để giữ nhà, để đi săn: chồn, thỏ ..., để vén vệ sinh cho con trẻ khi ỉa. Do hoàn cảnh thiếu đói của phần lớn dân chúng, phần ăn mỗi bữa dành cho chó rất ít – khoảng 1 chén cơm lưng, có khi, do đà ngon miệng, cả nhà ăn hết cơm, thế là chó không có phần, Bụng đói, chó phải tận dụng hết phân rơi ra và dùng lưỡi liếm đít trẻ rất sạch. Bà mẹ hay người giữ trẻ khỏi cần dùng giẻ hay giấy để lau. Nhiều nơi, khi chó già hay khi cần tổ chức liên hoan, người ta bắt chó làm thịt, cách giết thịt chó rất tàn nhẫn, bỏ vào bao bố, cột chặt bao rồi dìm xuống nước cho chết ngạt. Hiện nay, ở nước ta, việc ăn thịt chó đã phổ biến; ngày trước, thịt chó chỉ ăn nhiều ở miền Bắc. Nhiều người nước ngoài thấy dân mình ăn thịt chó, không bằng lòng, lên án. Đơn giản bởi vì chó là vật nuôi rất trung thành với chủ và khôn ngoan, tục ngữ Việt Nam đã có câu: “Lạc nhà theo chó, lạc ngõ theo trâu”.
Khi tiếp xúc với phương Tây, những gia đình quyền quý nước ta, ngoài nuôi chó giữ nhà, còn nuôi chó để làm bạn. Trong trường hợp này, chó có chế độ ăn uống đầy đủ, được chăm sóc y tế khi ốm đau.
Và gần đây, dân giàu nuôi chó còn để tham gia một trò chơi mới: chọi chó.


          

Giống chó nuôi để tham gia trò chơi là giống chó Pitbull - giống cắn nhau liều và dai. Vì vậy, trong và sau trận đấu, thân hình con chó bị rách nát, máu me khiến những ai có lòng trắc ẩn không thể nhìn được.
Trong trò chơi này, lão không tìm ra một ý nghĩa tốt đẹp nào hết mà thấy đó chỉ là một hình thức bạo lực tàn nhẫn.
“Sau khi trang tin tiếng Anh DTI news của Báo điện tử Dân trí đăng lại bài viết trên báo Tiền phong về thú chọi chó bạo lực đang được một số người du nhập vào Việt Nam, nhiều độc giả quốc tế đã bày tỏ phản ứng dữ dội về hoạt động tàn nhẫn này.
Chỉ trong thời gian ngắn sau khi bài viết được đăng tải hôm 10/3, nhiều độc giả nước ngoài đã có những bình luận bày tỏ sự ghê sợ, phẫn nộ, thậm chí yêu cầu cơ quan chức năng phải vào cuộc.”

Sau đây là một vài ý kiến điển hình.
Catherine Till viết “ ...Thế giới, với tôi, là một nơi rất đáng sợ…Tôi không thể tưởng tượng sự sợ hãi của những con vật không tự bảo vệ được mình kia, khi chúng bị buộc phải tham gia các cuộc đấu…”

T. Sanger còn tuyên bố tẩy chay du lịch đến Việt Nam: “ ... Tôi sẽ không tới thăm đất nước của các bạn cho tới khi việc làm này chấm dứt ...”
Trên thế giới, nhất là tại các nước phát triển, chọi chó bị xem là bất hợp pháp. 
Đạo luật cấm chọi động vật của Mỹ ban hành tháng 5/2007 xem chọi chó là trọng tội theo luật pháp liên bang, và có thể bị phạt tối đa 250.000 USD và 3 năm tù giam.
Tại Anh, đạo luật các giống chó nguy hiểm ban hành năm 1991 quy định cấm nuôi giống chó pitbull.



         
                                         Hậu quả sau cuộc chiến
                       (trong ảnh hàm dưới của Pitbull bị cắn cụt)

Ngày xưa, Khổng Tử (551 – 479 tr CN) nói: “Bản tính con người gần giống nhau, nhưng do môi trường sinh hoạt, do giáo dục, tính trở nên khác nhau xa giữa người này và người khác” (Tính tương cận dã, tập tương viễn dã). Như vậy, tính con người dù vốn là thiện như quan niệm của Mạnh Tử (372 – 289 tr. C.N.) hay là ác như quan niệm của Tuân Tử ( 298 – 238 tr. C.N.), qua quá trình sống chung đụng trong cộng đồng, qua giáo dục tốt hay xấu mà trở thành ác hay thiện.

Thế thì có ai trong chúng ta nghĩ rằng những ẩu đả giữa người và người trên đường chỉ vì một duyên cớ rất nhỏ nhặt, những vụ giết người cướp của với máu lạnh, thói vô cảm của con người trước nỗi đau của bà con, làng xóm, đồng bào mình... một phần bắt nguồn từ việc xem nhiều lần các trò chơi buộc động vật đấu chọi, cắn xé nhau không nhỉ?
                                                      
                                                                        Lão Gàn Hoàng Đằng
                                                                                17/3/2014