Wumao伍毛 là tiếng lóng để chỉ những “Mạ thủ”罵手
✔ Mạ 罵: Mắng chửi như trong mạ lị, nhục mạ, lăng mạ
✔ Thủ 手: Tay, tay nghề như trong cao thủ, danh thủ
*
Tàu ngày xưa là nơi sản sanh ra những mạ thủ, thì Tàu ngày nay cũng có những đội quân mạ thủ, thuật ngữ tiếng Hoa hiện đại là Wumao伍毛,có âm Hán Việt là “ngũ mao” dùng để chỉ “dư luận viên”:
伍 ngũ: đội ngũ
毛 mao (danh): lông; (động): nổi giận, phát cáu...
Như thế, Wumao 伍毛 hay “ngũ mao” là đội ngũ của nhửng kẻ chuyên nhục mạ đối phương để kích động làm cho đối phương nổi giận, phát cáu
Tôi mới học được một danh từ mới: mạ thủ. Một cách ngắn gọn, mạ thủ là một kẻ chuyên nghề chửi. (Giống như dư luận viên ngày nay). Lịch sử ra đời của mạ thủ vẫn còn mang tính thời sự ngày nay.
Theo tác giả Huy Phương (báo Người Việt), danh từ này xuất phát từ thời Hán Sở tranh hùng và Tam Quốc Chí bên Tàu. Thời đó, nhà cầm quyền huy động những người có lá phổi lớn, tiếng nói vang, và có cách chửi độc địa để làm ‘mạ thủ’. Mạ thủ chỉ có mộ việc đơn giản là chửi bới đối phương. Họ trong tư thế trần truồng, xông lên phía trước, sát cổng thành của đối phương, và tung ra những lời chửi bới tục tĩu và dơ bẩn nhứt nhắm vào đối phương. Mục đích là hạ nhục và khiêu khích đối phương bằng cách thoá mạ ông bà tổ tiên của đối phương, sao cho họ mở cửa thành để lính xông vào. Điều trớ trêu là mạ thủ là những người bị chết đầu tiên vì họ không có vũ khí khi xông trận. Họ có thể xem như là những con chốt thí cho bọn cầm quyền.