CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

TÂM NHANG – Thơ Lê Kim Thượng


          

 
Tâm Nhang
 
1.
Quê hương hai tiếng nhẹ nhàng
Mà sao đằm thắm, dịu dàng khôn nguôi
Nhớ bao kỷ niệm buồn vui
Bước chân lữ khách bùi ngùi về quê…
Lưng còng bóng Mẹ trên đê
Áo nâu vất vả đi về hôm mai
Sông quê vương vấn  lòng ai
Đẹp như dải lụa trải dài thướt tha…
Nắng chiều đổ bóng sân nhà
Mâm cơm lúa mới, chan hòa tình yêu
Chiều hoang tím cả rừng chiều
Đồng quê yên ắng, hiu hiu gió luồn
Núi cao khuất bóng hoàng hôn
Gió Heo May thổi bồn chồn chơi vơi
Ráng chiều tô đỏ chân trời
Cháy tàn ngọn nắng, đêm mời trăng lên…
 

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI, MỘT MÌNH, CÁNH CÒ HOÀNG HÔN - Thơ Tịnh Bình


        
 

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI
 
Mùa thu bứt cuống hanh hao
Heo may thả gió cồn cào âm xưa
Lá vàng hỏi nắng già chưa ?
Dập dìu ong bướm còn đưa lối tình
 
Giấc mơ hồ điệp làm tin
Rủ rê son phấn họa hình thanh xuân
Tháng năm dầu dãi gian truân
Đã từng mặn đắng, đã từng ngọt cay
 
Mùa thôi lược giắt trâm cài
Môi xinh hàm tiếu trang đài ngày xưa
Bây giờ đi sớm về trưa
Đành thôi cất nắng vào mưa chỉ mình...
 

BÚT LỰC MỘNG BÌNH SƠN - Vũ Hùng Khanh

                            
                               

 Trước 1975, chúng ta nếu thích đọc truyện Tàu, truyện kiếm hiệp và cả truyện Tây được dịch lại từ nguyên bản, thì chắc chắn phải biết tên tác giả - dịch giả Mộng Bình Sơn. Một cây bút sung sức, nhưng cũng đến lúc phải ẩn dật, đúng nghĩa không quan tâm thế sự bên ngoài đang diễn biến thế nào, kể cả chuyện người ta khai thác vô giới hạn các tác phẩm của mình!

                        
 
Mộng Bình Sơn tên thật là Phan Canh, sinh năm 1923, quê quán ở thôn Thọ Sơn, xã Nhơn Thọ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông mất vào tháng 5/2011.

ĐOÀN PHÚ TỨ, HÀO HOA PHONG NHÃ MÀ QUYẾT LIỆT – Vũ Đình Hoè



Về một vài nhân vật trong ảnh "Khách thỉnh-1935" cụ Hòe có bài viết sau này trong sách hồi kí cuối cùng "Gương mặt những người cùng thế hệ", in trong Nam, khó tìm được ở Bắc. Bởi vậy tôi xin chia sẻ dần với các bạn.

Đoàn Phú Tứ sinh năm 1910 tại Hà Nội, tốt nghiệp Tú tài Tây, vào học Luật khoa Đại học Đông Dương, nhưng đến năm thứ hai thì bỏ, chuyển sang nghề báo, cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Ông và Thế Lữ là những người sáng lập nền kịch nói Việt Nam hiện đại, thành lập ban kịch nói Tinh hoa, sáng tác kịch, đạo diễn và làm diễn viên trong nhiều vở, từng trình diễn trên Nhà hát lớn thành phố Hà Nội như Ghen, Ngã ba… 

GÌN GIỮ TIẾNG VIỆT CỦA DÂN TÔI - Nguyễn Chương Mt


 
Ai nói theo tiếng thuần Việt (quốc âm, còn gọi Nam âm), ai nói theo âm HV (Hán-Việt), thảy đều tôn trọng. NHƯNG cho phép tôi quí mến cách nói THUẦN VIỆT hơn (trong trường hợp tiếng thuần Việt và âm HV cùng nghĩa), quí hơn hẳn!

/1/ "CUỐN" - "Quyển"

"Quyển", trong "quyển sách", là cách gọi dựa vào chữ Hán, là âm HV của 卷. Trong khi đó, "CUỐN" là tiếng thuần Việt, hoàn toàn nằm ngoài hệ thống HV của chữ Hán!

Trong chữ Hán có "quyển nhì" 卷二 , "quyển tam" 卷三; trong khi đó tiếng Việt gọi là "CUỐN hai", "CUỐN ba".

/2/ "GIÙM" ("GIÚP") - "Hộ"

Quí bạn vẫn thường nghe: "nhờ làm giùm (làm giúp)", "nói giùm", "thu giùm (thu giúp)". "GIÙM", "GIÚP" hoàn toàn là tiếng thuần Việt, KHÔNG phải âm HV!

Rồi, trong khi đó bạn lại nghe: "làm hộ", "nói hộ", "thu hộ". Từ đâu ra "hộ"? Bạn có ngờ nổi, "hộ" chính là âm HV của 護, dựa vào chữ Hán đó đa!

/3/ "LẺ" - "Linh"

Tỉ như đọc "305" là "ba lẻ năm", lại nghe "ba linh năm". Có phải "lẻ", "linh" thuộc về phương ngữ trong Nam, ngoài Bắc? Không phải!

Trong chữ Hán, có khoảng 50 ký tự viết khác nhau nhưng đều đồng âm "linh", đồng âm lủ khủ. Trong đó có ký tự 零 "linh", nghĩa gì vậy?

Chữ Hán viết 三 零 五, kéo theo âm HV là "tam linh ngũ" (305). "Linh" là âm HV của 零, nghĩa là "LẺ" trong tiếng thuần Việt!

Không phải phương ngữ gì hết trơn, ở đây, "LẺ" là tiếng thuần Việt, cùng nghĩa với "Linh" là âm HV (dựa vào chữ Hán) đó đa!

Chúng ta nói "tiền lẻ", đồng nghĩa trong chữ Hán đọc là "linh tiền" (零 錢). Có ai ở ngoài Bắc , mặc dù gọi "ba linh năm" (305, tức "ba lẻ năm"), đi gọi... "linh tiền" không? Không! Mà đều gọi "tiền lẻ", "LẺ"!

* Thấy gì?

"LẺ" đã là tiếng thuần Việt trong cả nước. Cũng như "CUỐN", "GIÙM" ("GIÚP") đều đã là tiếng thuần Việt trong cả nước.

Rồi, do chịu ảnh hưởng Hán hóa trong ngôn ngữ, đem tiếng thuần Việt có sẵn ... sửa theo âm HV từ lúc nào đó, rất lâu, riết "nhập tâm" nói hoài đã thành quen miệng.

Thời may, cũng vẫn còn trong tiềm thức về tiếng thuần Việt. Thành thử vẫn còn giữ lại cách nói "tiền lẻ" (chớ không "linh tiền").

-------

Tiếng thuần Việt KHÔNG nằm trong âm HV, trước đây được ghi bằng CHỮ NÔM. Như chữ Nôm 𥘶 (đọc là LẺ), 𢩾 (đọc là GIÚP), 𡑓 (đọc là GIÙM), 卷 (đọc là CUỐN, theo cách thức dị âm đồng nghĩa với "quyển").

                                                                          Nguyễn Chương-Mt

Thứ Hai, 5 tháng 10, 2026

LÊ DUẨN VÀ NGUYỄN BÍNH - Nguyễn Thế Khoa

     Nhân kỷ niệm 40 năm Tổng Bí thư Lê Duẩn đi xa (1986-2026)

 
Bí thư Xứ ủy Nam bộ thời chống Pháp Lê Duẩn. 

Nhà thơ Trần Bạch Đằng kể rằng hồi kháng chiến chống Pháp, trong một đêm không trăng giữa năm 1947, ông và Bí thư xứ ủy Nam Bộ Lê Duẩn cùng đi công tác bằng thuyền trên Đồng Tháp Mười. Ông Lê Duẩn nằm trong khoang thuyền, còn ông ngồi ở mũi thuyền. Buồn buồn ông đọc bài thơ Lỡ bước sang ngang của Nguyễn Bính:

Em ơi em ở lại nhà
Vườn dâu em đốn mẹ già em thương
Mẹ già một nắng hai sương
Chị đi mỗi bước trăm đường xót xa...

Chủ Nhật, 4 tháng 10, 2026

CHUYỆN CHƯỞNG MÔN VOVINAM VIỆT VÕ ĐẠO LÊ SÁNG ĐI TÙ CẢI TẠO - Tác giả: Vũ Ánh


Ảnh: Võ sư Lê Sáng và võ sư Sáng tổ Nguyễn Lộc (phải)

Sau 1975, võ sư chưởng môn đi tù mất 13 năm(1975-1988) và các võ đường Vovinam(Việt võ đạo) năm 1990 mới được phép hoạt động trở lại

Cho đến nay, tôi vẫn không biết lý do ông vào tù nhưng với số năm tù của ông thì có thể đoán ông có một chức vụ cao trong chính quyền Việt Nam Cộng Hoà

Chuyện đi tù cải tạo của võ sư Lê Sáng, chưởng môn Vovinam

                                                                              Tác giả: Vũ Ánh

Tôi biết Võ sư Lê Sáng Chưởng môn phái Việt Võ Đạo tức Vovinam từ lúc còn mới chập chững bước vào nghiệp báo bổ qua lời giới thiệu của một môn sinh của ông lúc đó mới mang chuẩn Hồng đai Nguyễn Đức Quỳnh Kỳ. Sau đó có một vài lần đến võ đường của Vovinam gần nơi tôi làm việc để xem Quỳnh Kỳ dạy võ cho các môn đệ của anh và đến tổ đường Vovinam ở 31 đường Sư Vạn Hạnh để xem Quỳnh Kỳ học võ với võ sư Chưởng môn Lê Sáng.

Thứ Bảy, 3 tháng 10, 2026

MƯỜI NĂM – Thơ Lê Kim Thượng


  

 
Mười  Năm
 
1.
Mười năm tình cũ còn không?
Ai thương, ai nhớ… ai mong, ai chờ…
Chuyện tình chết lịm trong thơ
Còn gì đâu nữa mà chờ, mà mong
Con đò bến cũ long đong
Có người đứng đợi, ngóng trông ngày ngày
Chữ tình còn một chút này
Rưng rưng nghèn nghẹn dâng đầy lòng ta
Biệt ly, ly biệt chia xa
Em giờ là của người ta mất rồi…
Tiễn em về phía xa xôi
Quay lưng ôm nặng đơn côi một mình
Nhắc làm chi một chuyện tình
Một mình mình nhớ, một mình mình thương
Một mình, một gánh tơ vương
Tôi đi về phía con đường không em…
 
2.
Còn đâu một cánh môi mềm
Ngọt ngào, thắm thiết, ấm êm ngập lòng
Hẹn thề vượt cả bão giông
Giữ lòng chung thủy, một lòng yêu thương…
Bây giờ chưa hết dặm trường
Nửa đường gãy gánh, nửa đường thương đau
Em xa tình lỡ phai màu
Làm sao quên được tình đầu mới yêu…
Buồn vui nếm trải đã nhiều
Bao nhiêu năm nhớ, bấy nhiêu năm sầu
Ngồi ôm kỷ niệm mà đau
Nhớ ngày xưa cũ bên nhau ngọt bùi
Tình xa lòng luống ngậm ngùi
Thương đau rơi xuống chôn vùi tình yêu
Mười năm còn nhớ ít nhiều
Lòng như quán vắng… chợ chiều đã tan…
 
                    Nha Trang, tháng  09. 2026
                          LÊ KIM THƯỢNG

HOÀN CẢNH SÁNG TÁC NHẠC PHẨM “MỘNG DƯỚI HOA” CỦA PHẠM ĐÌNH CHƯƠNG - Đông Kha



“Mộng Dưới Hoa” là một nhạc phẩm tình ca có nội dung tuyệt đẹp và rất lãng mạn của nhạc sĩ Phạm Đình Chương. Cái đẹp và lãng mạn của bài này hát được thừa hưởng từ bài thơ thời tiền chiến của thi sĩ Đinh Hùng. Tuy nhiên ít người biết rằng bài hát “Mộng Dưới Hoa” không phải được phổ từ một bài mà từ 2 bài thơ khác nhau của thi sĩ Đinh Hùng.
 
Nếu để ý, người nghe nhạc sẽ thấy lời của bài hát Mộng Dưới Hoa êm đềm như một bài thơ 7 chữ, nhưng đến đoạn điệp khúc: Nếu bước chân ngà có mỏi… thì nhịp điệu nhanh hơn và có 6 chữ trong mỗi câu. Đó là vì những câu hát đó thuộc về 2 bài thơ khác nhau: 1 bài thơ 7 chữ và 1 bài thơ 6 chữ.
 

BÀI CA MƯA THU, TRĂNG SÁNG HIÊN NHÀ, SÔNG MƯA – Thơ Tịnh Bình


  


BÀI CA MƯA THU
 
Êm êm như rất mỏng
Lướt trôi trên phím đàn
Giọt mưa thu khe khẽ
Hát bài ca miên man
 
Vườn khuya cơn gió rụng
Rơi chớm hương khẽ khàng
Ngủ quên rồi khúc dế
Dưới trăng xưa trầm khàn
 
Dòng dòng hoài niệm cũ
Theo mưa tí tách về
Nhòa mặt người hư ảnh
Một thời ta đam mê
 
Chờ mưa khô dòng lệ
Hong lên giọt nắng trời
Những niềm thương vừa chớm
Nụ cười ai buông rơi...
 

LÂM CHƯƠNG: CHIẾN TRANH, TÙ ĐẦY, NỖI ÁM ẢNH TỪ TÂM HỒN ĐẾN THƠ VĂN - Đỗ Trường

                           (Mục chân dung nhà văn- Đỗ Trường)


Tôi đã đọc khá nhiều trang văn của cả hai phía (Bắc-Nam) viết về chiến tranh, và hậu chiến với những năm tháng dài tù tội. Song đến nay, cùng với Phạm Tín An Ninh, Thảo Trường, hay Nguyên Vũ…thì người lính Lâm Chương cũng là một nhà văn cho tôi rất nhiều cảm xúc khi đọc. Sự rung động ấy, không hẳn giọng văn trào phúng, mỉa mai với tiếng cười đớn đau, mà bởi cái giá trị hiện thực và nhân đạo ở truyện ngắn, văn xuôi Lâm Chương mang đến cho người đọc. Hai giá trị cơ bản của văn học, nhưng không phải ai cũng viết dân dã mà sinh động, sâu sắc được như Lâm Chương. Cũng như Phạm Tín An Ninh, một đặc điểm nổi bật nữa của Lâm Chương lối hành văn, câu cú rất chuẩn mực, sáng và đẹp. Một sự ngẫu nhiên, thú vị hai nhà văn người lính (Phạm Tín An Ninh và Lâm Chương) trạc tuổi cùng xuất thân từ trường trung học Nha Trang. Ở đó, cả hai bác nhà văn này đều cho thế hệ sau nhiều kinh nghiệm viết văn quý báu.

Thứ Năm, 1 tháng 10, 2026

CÔ GÁI BÁN DON - Hạo Nhiên Nguyễn Tấn Ích



Đến định cư tại miền Bắc California Hoa Kỳ hơn nửa năm, bỗng một hôm, tôi nhận được cú điện thoại của Thung từ Texas gọi qua. Thung là bạn học, cũng là chiến hữu của tôi ngày xưa. Hắn đề nghị gởi vé máy bay mời tôi qua Houston chơi. Nhân tiện thăm viếng khu vực dễ làm ăn và giá nhà cửa cũng dễ thở hơn nhiều so với San Jose. Tôi đồng ý. Một tuần lễ sau, một vé máy bay và một cái check 300 Mỹ kim trong bì thư gởi đến. Đây là một món quà khá hậu hỉ ở đất lạ quê người. Ba ngày sau, tôi lên máy bay của hãng Continental Airlines đi Texas. Bay suốt bốn tiếng đồng hồ, chiếc Boeing mới hạ cánh xuống phi trường Houston. Thung đón tôi tại lối ra của khu hành khách. Lần gặp nhau cuối cùng ở quê nhà vào năm 1973, tại Đại Học CTCT Đà Lạt. Ngày ấy, trông hắn rắn rỏi, khuôn mặt sạm nắng mà hôm nay, sau mười sáu năm định cư tại Mỹ, hắn hoàn toàn lột xác. Nước da trắng hồng đỏ au, cái bụng căng tròn, dáng người bệ vệ trông “rất ông chủ”. Mà chủ thực. Thung làm chủ cái chợ bán đồ biển. Vợ và con quản lý còn Thung lo chạy vòng ngoài.

CA SĨ HỒI CHÁNH ĐOÀN CHÍNH (CON NHẠC SĨ ĐOÀN CHUẨN)

Nguồn:
https://www.facebook.com/SuThatVietNam/posts/pfbid02FBS2SYXnTTPuJdyY6arwLjhN6pG1EkqUXjcDSRCHv2wi5VBSiVupawcnDV17RX9Wl?rdid=M9Sh85bXL5Ub7acz

     Ảnh:  Đoàn Chính và vợ, Mộng Hương, trong ngày lễ thành hôn. Ông từ trần ngày 10/9/2019, thọ 74 tuổi.

Nếu người Việt Nam  biết đến Nhạc Sĩ Đoàn Chuẩn qua những bài nhạc mượt mà, ca tụng cái đẹp thì người Việt ở miền Nam trước 1975 họ còn biết đến một hồi chánh viên nổi tiếng là Đoàn Chính con của nhạc sĩ Đoàn Chuẩn qua tiếng hát đầy nam tính của một ca sĩ có đủ hai yếu tố cần thiết: phẩm chất và kỹ thuật.

Thứ Tư, 30 tháng 9, 2026

NGƯỜI QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng


 

Người  Quê
 
1.
Quê nhà xa khuất sơn khê
Ai đi xa cũng mong về với quê…
Cỏ xanh ken lối đi về
Đình làng xưa cũ, đôi Nghê đứng chầu
Sông dài nước chảy về đâu
Sóng xô một khúc nhạc sầu miên man
Trời xanh mây trắng lúa vàng
Cánh đồng no gió mênh mang nắng hồng
Cha còn vất vả trên đồng
Mẹ còn lặn lội long đong tháng ngày
Đường về gánh lúa chiều nay
Áo em thôn nữ gió bay nhẹ nhàng…
Rượu quê uống cạn lại tràn
Người quê say giữa thênh thang đất trời
Thật thà, chân chất người ơi
Hiền hòa, giản dị một đời bình an…
 

Thứ Bảy, 19 tháng 9, 2026

RƯỢU ĐẾ TRONG DÂN GIAN TÂY NAM BỘ - Bùi Tuý Phượng



Khó có thể biết được rượu ra đời từ lúc nào, ở đâu, song nói về rượu, về tác dụng chữa bệnh, về văn hóa uống rượu thì tất cả các dân tộc trên thế giới đều có. Ở Việt Nam, rượu gắn với sinh hoạt cộng đồng, với các nghi lễ, hội hè, đình đám, với những lời thề ước, nhưng nếu uống rượu quá đà cũng gây nhiều phiền lụy...
 
Chính vì vậy, chẳng biết tự bao giờ, rượu đã đi đời sống văn hóa của người bình dân và bằng cách này hay cách khác nó đã tồn tại trong cộng đồng người Việt nói chung, trong đó có người dân đồng bằng sông nước Cửu Long.
 
Theo Cơ sở văn hoá Việt Nam, phần được coi là Tây Nam Bộ có diện tích khoảng 4.000 km2, chủ yếu là vùng đồng bằng sông Cửu Long, một số đảo (lớn nhất là đảo Phú Quốc) cùng một vài dãy núi thấp ở phía Tây An Giang, Kiên Giang. Lịch sử hình thành vùng đất này gắn liền với bước chân những người đi mở cõi thế kỷ XVII – XVIII
 
Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ con cá vùng cũng kinh
 

GÁC CU “THÚ NGU”TAO NHÃ – Bài viết của Ngô Văn Tuấn

 Dân gian ta có câu “Ở đời có bốn cái ngu: Làm mai, lảnh nợ, gác cu, cầm chầu”. “Nghề” gác cu được xếp vị trí thứ 3 tức “đệ tam ngu”. Mấy cái ngu như làm mai, lảnh nợ thì hệ quả đã rõ ràng, còn như gác cu, dù là “tam ngu”nhưng xem ra cái ngu này đã khiến nhiều người mê mẩn , quên ăn, quên ngủ. Có người còn bảo đây là cái ngu tao nhã, ngu phong lưu, cái ngu mà rất ít người học được.
 
Nhà tôi ở làng Phước Bình Tân An, La Gi Bình Thuận.  Nhà vườn rộng, trồng toàn  mít với đào. Sáng nào thức dậy quét lá cũng nghe tiếng cu gáy rân vườn. Buổi trưa treo võng nằm hóng gió, lại cũng thẫn thờ với tiếng gáy chim cu. Nghe riết rồi quen, rồi ghiền, bữa nào thức dậy thấy vắng tiếng chim,nghe nó buồn buồn, quạnh hiu sao ấy.
 
Tôi đã vậy, cạnh nhà lại có thêm chú em Ba Ánh bị nghiện nặng thú gác cu. Hai anh em hễ bận thôi, rảnh là mang lồng, đem cu mồi đi nhữ. Dòng sông Dinh vào mùa hè chim chóc líu lo. Những rẫy mít, rừng bụi là nơi cu hò hẹn trao tình, tiếng gáy, tiếng gù cứ như có ma lực cuốn hút khó cưởng.
Lại nói về cu: Cu có nhiều loại, cu đất, cu cườm, cu ngói, cu xanh… Ở nông thôn Việt Nam ai mà chẳng từng nghe cu gáy. Tiếng chim cu cũng đã đi vào thơ ca rất dịu dàng , đằm thắm :
“Như buổi trưa nhè nhẹ trong ca dao/ Có cu gáy, có bướm vàng nữa chứ/ Mà đôi lứa đứng bên vườn tình tự…”
 

BỐN THÁNG TRÊN ĐẢO HOÀNG SA – Hồi ký của Hoa Nghiêm

Một quân nhân Việt Nam Cộng Hòa ghi lại những ngày nhọc nhằn lẫn thích thú khi theo gót Robinson Crusoe sống một thời gian trên hòn đảo hoang vắng.
 
Ảnh chụp bài viết trên bán nguyệt san Thời Nay số 284 (1972)
 
Đại đội chúng tôi còn năm hôm nữa sẽ xuống tàu ra đồn trú ở đảo Hoàng Sa. Đơn vị chúng tôi là đại đội tiếp lực đóng tại Vĩnh Điện thuộc Tiểu đoàn X. Sau những năm dài vào sinh ra tử chiến đấu cam go, nay có dịp xả hơi nên tuy phải đổi ra một đảo hoang vắng mọi người đều có vẻ thoải mái. Ngay từ khi mới nhận được lệnh, chúng tôi liền giở thư báo tin cho người nhà biết và mua sắm các loại vật dụng cùng thực phẩm cần thiết.
 
Biết rằng Hoàng Sa là một quần đảo hoang vu không có dân cư, để chuẩn bị thức ăn tươi, ngoài số quan nhu vật thực do đơn vị đảm trách, các trung đội họp nhau vạch kết hoạch chung tiền mua hạt giống ra củ, đậu cà, mua gà con, heo giống đem theo nuôi, người ta còn mua cả lưỡi câu, lưới, chỉ, ny lông để bắt cá. Riêng cá nhân mỗi người đều sắm sửa mang theo nào tiêu, ớt, hành, tỏi, dầu, đường, bột mì. Người thì mang theo thuốc lá, cà phê hộp, sữa, sách, truyện, có người mang theo cả chó con, mèo và cả chim sao nữa. Chúng tôi chuẩn bị sống cuộc đời của nhân vật tiểu thuyết Lỗ Bình Sơn trên hoang đảo.

CHIẾT TỰ CHỮ PHONG 豊 - Dịch Thuật Hán Nôm



Hán–Việt: Phong
Nghĩa Việt: Phong phú, dồi dào, đầy đủ; sung túc, thịnh vượng.
Phiên âm (Pinyin): fēng

Chữ 豊 (Hán–Việt: Phong) là một chữ Hán mang nghĩa phong phú, đầy đủ, dồi dào và thịnh vượng. Chữ này gợi lên hình ảnh lễ vật, của cải được bày biện đầy đủ, từ đó biểu thị trạng thái sung túc, phong thịnh. Nghĩa của chữ 豊 không chỉ dùng để nói về vật chất dồi dào mà còn có thể mở rộng sang sự phong phú về tài năng, tri thức, đức hạnh và đời sống tinh thần.

Theo hình thể chữ Khải, chữ 豊 gồm hai thành phần: 曲 + 豆
Chữ 曲 (Khúc) mang nghĩa cong, uốn, khúc; trong hình thể của 豊, phần này nằm phía trên và góp phần tạo nên hình dáng tổng thể của chữ.
Chữ 豆 (Đậu) vốn là hình một loại đồ đựng dùng trong nghi lễ thời cổ, thường dùng để đựng lễ vật. Trong chữ 豊, 豆 gợi hình ảnh một vật chứa lễ được đặt bên dưới phần 曲.
Có thể trình bày: 豊 = 曲 + 豆
Khi kết hợp 曲 + 豆, có thể gợi nên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy đặn, biểu thị sự đầy đủ và sung túc.
豆 gợi hình ảnh vật chứa lễ vật, còn 曲 góp phần tạo nên hình thể của chữ. Từ hình ảnh lễ vật đầy đủ trong các nghi lễ cổ, chữ 豊 phát triển thành những ý nghĩa như phong phú, dồi dào, sung túc và thịnh vượng.
Vì vậy, 豊 có thể được ghi nhớ qua hình ảnh: “Lễ vật đầy đủ, của cải dồi dào → phong phú, sung túc.”

Các từ ngữ quen thuộc có chữ này
豊富 (Phong phú): dồi dào, nhiều và đa dạng.
豊饒 (Phong nhiêu): màu mỡ, sản vật dồi dào, phong phú.
豊盛 (Phong thịnh): đầy đủ, sung túc, thịnh vượng.
豊年 (Phong niên): năm được mùa, mùa màng dồi dào.
豊穣 (Phong nhượng): mùa màng phong phú, sản vật dồi dào.
豊滿 (Phong mãn): đầy đặn, sung mãn, đầy đủ.

Nhìn từ góc độ chiết tự, 豊 = 曲 + 豆 gợi lên hình ảnh đồ đựng lễ vật được bày đầy, tượng trưng cho sự đầy đủ và sung túc. Hình ảnh ấy giúp người học dễ liên tưởng đến ý nghĩa phong phú, dồi dào, thịnh vượng của chữ.

Vì vậy, chữ Phong 豊 không chỉ gợi đến sự giàu có về vật chất mà còn có thể được hiểu rộng hơn là một trạng thái đầy đủ và dồi dào trong cuộc sống. Một đời sống “phong” không nhất thiết chỉ nhiều của cải, mà còn có thể là phong phú về tri thức, giàu có về tình nghĩa và đầy đặn về đức hạnh.
 
                                                                     Dịch Thuật Hán Nôm