Lạc Nhau1.Cái thời thuở ấy chưa chồngCỏ Khâu may áo, áo hồng đào rơiNhớ ngày thuở ấy chung đôiBây giờ xa cách vẫn ngồi nhớ em…Nhớ môi hồng thắm ướt mềmLắng nghe hơi thở nhẹ êm ngọt ngàoHãy yêu cho thật dạt dàoTiếng em thủ thỉ lời trao nhẹ mềm…Dỗi hờn, hờn dỗi chi emĐem tình tôi thả xuống miền ưu tưDìu em vào cõi mộng duMây hồng lãng đãng mùa thu nắng tàHẹn thề mình mãi không xaDù cho trắc trở, vẫn là của nhauDù tình ngang trái thương đauTôi em vẫn giữ tình đầu mãi yêu…2.Tình ta giông bão đã nhiềuNhắc làm chi nữa trăm điều xót xaTình ta chát đắng đậm đàNgười đi xa mãi, bỏ ta thất tìnhSao không nói thật lòng mìnhĐinh ninh lời hẹn, đinh ninh lời thề…Tình xa sao vẫn si mêBóng xưa em vẫn đi về… trong mơLâu rồi vẫn đợi, vẫn chờTrở nghiêng gối mộng, hững hờ canh thâuEm về đâu… Anh về đâu…Trăm năm mình đã lạc nhau giữa đờiGiờ đây người đã xa ngườiCòn tôi thao thức giữa trời mưa NgâuTôi về gom nhặt thương đauGom tình đã lỡ qua cầu… buông trôi…Nha Trang, tháng 09. 2026LÊ KIM THƯỢNG
NỖI NIỀM
Thứ Hai, 14 tháng 9, 2026
LẠC NHAU – Thơ Lê Kim Thượng
ĐẠI LỘ BÚN BÒ HUẾ - Tác giả Phanxi Pang
Khắp nước ta và nhiều nơi ở nước ngoài, hầu hết nhà hàng đặc sản Việt Nam đều kê trong thực đơn cái món vermicelle de Hué / Hue vermicelli. Nghĩa là “bún Huế”, song cần hiểu ngầm là bún bò Huế, và nếu cần trình bày cho đầy đủ thì phải ghi: bún + thịt bò + giò heo + chả + các phụ gia thích hợp. Giò heo đây là cẳng lợn, phần móng. Còn chả – người miền Bắc quen gọi là giò – gồm các thứ chả heo như chả lụa, chả bông, chả cây (chả lá), chả quế, chả viên; ngoài ra còn có chả cá và chả cua nữa.Bún bò giò chả là thức quà được bán suốt ngày đêm cho thiên hạ điểm tâm buổi sáng, ăn dặm xế trưa, dùng lỡ ban chiều và lót dạ tối khuya.
VÀI LỜI VỚI HOÀNG HẢI VÂN - Huỳnh Ngọc Chênh
- ganh ghét đố kị vì người đó được ca ngợi
- có thù oán cá nhân nên chửi mắng cho hả lòng căm thù
Tôi không tin rằng anh Hoàng Hải Vân khi viết về ông Nguyên Ngọc vào dịp mừng ông thượng thọ 90 thuộc vào một trong hai trường hợp kể trên.
Lẽ ra tui không cần nói gì với anh nữa sau khi đã có khá nhiều bài viết phân tích khá hay về hai bài viết bậy bạ của anh về Nguyên Ngọc.
Đó là những bài viết xuất sắc của Thái Hạo, Thích Thanh Thắng, Duong Tu, Nguyễn Xuân Diện, Nguyễn Thông và vài người khác.
Những người đó bằng những lời lẽ ôn hòa và xây dựng đã cố giúp anh thấy cái sai của anh qua hai bài viết vừa rồi.
TÂN CƯƠNG - PHONG CẢNH, LỊCH SỬ, VĂN HOÁ VÀ CÂU HỎI VỀ SỐ PHẬN LỊCH SỬ
Vùng đất Tân Cương (Xinjiang) ở miền Tây Bắc Trung Quốc là một thế giới hoàn toàn khác biệt, nơi giao thoa giữa các nền văn hóa Á - Âu, được khắc họa qua ba nét chính về phong cảnh, lịch sử và văn hóa:
I. Phong Cảnh — Một Thế Giới Thu Nhỏ, Kỳ vĩ, Đa dạng và Cực đoan
Tân Cương là tỉnh lớn nhất Trung Quốc, chiếm một phần sáu tổng diện tích lãnh thổ — rộng gấp bốn lần tiểu bang California của Mỹ. Địa hình của vùng này phi thường đến mức khó tin: những sa mạc rộng lớn nhất thế giới, những dãy núi cao nhất châu Á, những ốc đảo màu mỡ xanh tươi giữa lòng hoang mạc, và những thảo nguyên bao la trải dài đến tận chân trời. Tân Cương nổi tiếng với địa hình "tam sơn giáp lưỡng bồn" (ba dãy núi kẹp hai bồn địa):
Hai bồn địa khổng lồ: Bồn địa lòng chảo Tarim (nơi có sa mạc Taklamakan – một trong những sa mạc cát dịch chuyển lớn và khắc nghiệt nhất thế giới) nằm ở phía nam, nơi mà người Duy Ngô Nhĩ gọi là "vào đó không ra được"; và Bồn địa Dzungarian ở phía bắc. Urumqi — thủ phủ của vùng — là thành phố xa biển nhất trên toàn thế giới.
Những dãy núi hùng vĩ: Dãy Thiên Sơn (Tian Shan) cắt ngang Tân Cương, chia đôi vùng đất này thành Nam Cương và Bắc Cương. Xa hơn là ranh giới của dãy Côn Lôn ở phía nam (Kunlun), và Altai. miền bắc.
Sự tương phản ngoạn mục: Chỉ cách nhau vài giờ di chuyển, bạn có thể chứng kiến một bên là sự khô cằn, hoang vu đến nghẹt thở của sa mạc, bên kia lại là những thảm cỏ xanh mướt của thảo nguyên Y Lê (Ili), những hồ nước thuộc vùng núi cao trong vắt như ngọc bích (như hồ Kanas, hồ Sayram), hay những đỉnh núi phủ tuyết trắng quanh năm.
Chính vị trí địa lý này — nằm giữa tám quốc gia, kẹp giữa Nga, Mông Cổ, Kazakhstan, Kyrgyzstan, Tajikistan, Afghanistan, Pakistan, và Ấn Độ — đã biến Tân Cương thành ngã tư của các nền văn minh trong suốt mấy ngàn năm lịch sử.
KHẢI HOÀN 凱還 – Bài viết của Ung Chu
- khải 凱: khúc nhạc mừng khi quân đội chiến thắng trở về, hoán dụ chỉ chiến thắng, thắng lợi, có liên quan chữ "khải" 愷 nghĩa là vui mừng
- hoàn 還: trở về, như trong "châu hoàn Hợp Phố" 珠還合浦 (châu về Hợp Phố), "hoàn hồn".
"Khải hoàn" 凱還 nghĩa là thắng trận trở về, đây là từ lâu đời trong Hán ngữ. Bài ca mừng thắng trận trở về là "khải ca" 凱歌, "khải hoàn ca" 凱還歌. Tuy nhiên, trong tiếng Trung Quốc, tiếng Nhật, tiếng Hàn, người ta thường dùng từ "khải toàn" 凱旋. "Toàn" 旋 nghĩa là quay tròn, quay lại, quay về.
Cổng vòm Arc de Triomphe (arc de triomphe de l'Étoile) là một trong những biểu tượng nổi tiếng của nước Pháp, toạ lạc giữa Quảng trường Charles-de-Gaulle (tiếng Pháp: place Charles-de-Gaulle) tại thủ đô Paris, trước đây gọi là Quảng trường Étoile (tiếng pháp: place de l'Étoile). Người Việt Nam gọi Arc de Triomphe là Khải Hoàn Môn (danh từ riêng).
Cổng này thuộc dạng công trình cổng chào mừng chiến thắng ở châu Âu, kế thừa kiến trúc La Mã cổ đại, ta gọi chung là các "khải hoàn môn" 凱還門 (danh từ chung). Tiếng Pháp gọi là "arc de triomphe" với "arc" chỉ cổng vòm, "triomphe" nghĩa là chiến thắng, tiếng Anh gọi là "triumphal arch" (triumph: chiến thắng, thắng lợi lớn; arch: cổng vòm).
Trong khi người Việt Nam gọi "Khải Hoàn Môn" và "khải hoàn môn", thì các ngôn ngữ kia gọi là "Khải Toàn Môn" 凱旋門 và "khải toàn môn" 凱旋門. Tiếng Nhật đọc là "gai-sen-mon" がいせんもん, tiếng Hàn đọc là "gae-seon-mun" 개선문, tiếng Trung Quốc viết giản thể là 凯旋门.
Bài viết của Ung Chu
Thứ Sáu, 4 tháng 9, 2026
THU KHÚC, MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNG, HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN – Thơ Tịnh Bình
THU KHÚCRụng vào thu xưa chiếc láNeo hồn ta giữa đa mangHeo may luồn kim se chỉĐong đưa một phiến thu vàngThầm gọi đôi lời quá vãngĐộc bình hoa tím đơn côiMênh mang nẻo về sương khóiThơ xưa nét chữ nhòe rồiTri âm bạn đà đi vắngCầm lên xác bướm khô rơiNgười gần như xa quá đỗiThì thôi thu hát bên trờiKhẽ chuyến mây trôi bằng lặngVườn thu mắt cỏ đẫm sươngLãng đãng lời chi chuông gióNgỡ em phía lối hoang đường...MÙA VÀNG TRÊN QUÊ HƯƠNGNắng mưa rát mặt cánh đồngCơm mùa giáp hạt đèo bòng sắn khoaiNhọc nhằn tay ải tay aiPhôi thai từ buổi hạ dài sang thuBờ hoang an phận mù uGieo neo chi gió đánh đu phận ngườiCuối mùa sen ngỡ còn tươiLá xanh nõn ngó búp cười mà đauNhớ xưa thầm trách chi nhauGió đưa hương bưởi rụng vào nhà aiLời ru quay quắt đêm dàiTrầu cay một mớ vẫn hoài đa mangGọi nhau trẩy hội mùa vàngTay liềm tay hái mơ màng thảo thơmQuê nhà ướt bóng chiều hômNgát hương cơm mới rạ rơm phơi lòng...HƯƠNG NHÀI CŨ CHƯA TAN...Khi những cánh diều không cõng nổi ước mơTa biết nói gì cùng mùa hạGiá có thể trở lại làm đứa trẻ sà vào lòng mẹKhóc một trận thỏa thuêNhắn bước chân thôi hãy về điMái nhà xưaLũ rêu hoang bám gờ giếng cạnMùa hạ lặng thầmCây nhài cũ đơm bôngMặc những ngổn ngangBàn chân lấm bụiNhững đứa trẻ giả vờ như chưa lớnBên chái bếp còn nghe mùi khói rụngHương nhài cũ chưa tan...TỊNH BÌNH
CÕI TRẦN – Thơ Lê Kim Thượng
Cõi Trần
1.Người về tìm thuở thiếu thờiQuê hương in dấu một đời Mẹ ChaSông quê nước chảy hiền hòaĐón người lữ khách phương xa mới vềGió lùa qua mái tranh treLời ru đằm thắm trưa hè “ À… ơi…”Lời ru theo gió chơi vơiBâng khuâng xao xuyến đậm lời thơ ca…Người về vui với quê nhàLúa ngô, khoai sắn thật thà chân quêMẹ về, bóng Mẹ trên đêHanh hao cái nắng tái tê chín vàngLẫn trong ngọn gió vừa sangHương thơm lúa chín đồng vàng xa đưaNắng qua kẽ lá lưa thưaSông quê vọng tiếng đò đưa thuở nào…2.Quê nhà hai tiếng ngọt ngàoNgười xa vạn dặm nôn nao bồi hồiLòng còn đau đáu người ơiTrông về quê cũ, phương trời mù xa…Quê nhà hai tiếng thiết thaNhà xưa có Mẹ, có Cha mong chờNhớ về năm tháng tuổi thơNhớ về tiếng Mẹ “Ầu… ơ…” nhẹ nhàng…Một mùa báo hiếu Vu LanCài bông hồng trắng hai hàng lệ rơiMẹ giờ đã khuất bóng đờiÂm dương cách biệt, hết thời chờ mongLung linh những ngọn nến hồngChắp tay con vái cầu mong Mẹ hiềnMẹ về cõi Bụt, cõi TiênBỏ gian nan, bỏ ưu phiền… nhân gian…Nha Trang, tháng 08. 2026LÊ KIM THƯỢNG
Thứ Năm, 3 tháng 9, 2026
KỶ NIỆM MỘT THỜI SỐNG NGHÈO VỚI NGUYỄN BÍNH Ở RẠCH GIÁ – Bài viết của Kiên Giang Hà Huy Hà
Nguyễn Bính là nhà thơ nổi tiếng của Việt Nam thời kỳ Thơ Mới thập niên 1930 - 1940, còn thi sĩ – soạn giả Kiên Giang là một tên tuổi nổi bật của thi đàn miền Nam trước năm 1975.
Giữa họ đã từng có một cuộc tương phùng thú vị, được chính Kiên Giang kể trong một bài báo năm 1968 ở sau đây:
Hồi đó khoảng năm 1944, một người bạn cho tôi hay Nguyễn Bính hiện đang tá túc tại nhà của 1 công chức ở xóm biển của quê hương tôi (Rạch Giá- Kiên Giang).
Thứ Tư, 2 tháng 9, 2026
DẦU GIÓ SIANG PURE OIL (上標油) CỦA THÁI LAN - La Thuỵ sưu tầm và biên tập
Cụm từ 上標油 còn có thể đọc theo âm Hán Việt là “Thượng Phiêu Du”, “Thượng Biểu Du” (hoặc người Tàu gọi sản phẩm này là “Thượng Tiêu Bản”).
Khi phân phối cho thị trường người Hoa, hãng sử dụng tên gọi Thượng Tiêu Du (上標油) làm thương hiệu chính thức để khẳng định uy tín và chất lượng của sản phẩm.
La
Thuỵ sưu tầm và biên tập
PHỤ CHÚ:
Âm Hán Việt có những cái ngồ ngộ. Trước 1975, khi học
môn triết, tôi ngỡ ngàng về một số từ ngữ chẳng hạn YÊN SĨ PHI LÝ THUẦN, sau đó
mới hay rằng đó là cách phiên âm Hán-Việt cũ từ chữ Hán 英士斐理純 (do Lương Khải Siêu phỏng dịch) để chỉ từ
INSPIRATION (có nghĩa là cảm hứng) ở tiếng Pháp hoặc tiếng Anh, trong triết học
dùng chỉ trạng thái thăng hoa, linh cảm hoặc nguồn cảm hứng sáng tác nghệ thuật.
Cũng lạ, PHIÊU l標 là âm Hán Việt của PURE (tiếng Anh), nhưng DU 油 là nghĩa chính của OIL (tiếng Anh).
"Thượng Phiêu Du"上標油 là hỗn hợp của phiên âm Hán Việt các từ tiếng ANH với âm Hán Việt của chữ Hán có ý nghĩa trực tiếp !
- Âm Quan thoại: yóu ㄧㄡˊ, yòu ㄧㄡˋ
- Âm Nôm: dàu, dầu, du, dư, rầu, trầu
- Âm Nhật (onyomi): ユ (yu), ユウ (yū)
- Âm Nhật (kunyomi): あぶら (abura)
- Âm Hàn: 유
- Âm Quảng Đông: jau4
Từ OIL trong tiếng Anh được người Triều Châu phiên âm thành "อิ๊ว" - phát âm là iu / íw).
Tên của loại dầu gió này là hỗn hợp âm Hán Việt của chữ Hán như THƯỢNG 上 (Siang), kết hợp phiên âm từ tiếng Anh PURE (phiêu) và OIL (Ew, íu) thành “Siang-phiêu-iú”, Thượng Phiêu Du (上標油). Đặc biệt, dù phiên âm chữ OIL trong tiếng Anh thành “íu”, họ vẫn viết chữ Hán là DU 油. Chữ PURE trong tiếng Anh, họ viết thành 標 “phiêu” (hoặc “tiêu”)





