CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Hai, 27 tháng 4, 2026

PHÙ LƯU 芙畱, TRẦU (GIẦU, BLẦU...) - Ung Chu



Tìm về các làng cổ của người Việt ở đồng bằng sông Hồng và Bắc Trung bộ là một cách hay để nghiên cứu về tiếng Việt cổ, chữ Hán và chữ Nôm. Hình thái tiếng Việt được ghi nhận trong thế kỉ 17 bởi người phương Tây là tiếng Việt trung đại, trực tiếp phân hoá thành các phương ngữ hiện đại. Trước đó vài trăm năm, tiếng Việt cổ có nhiều khác biệt với thời nay mà ta cần sự trợ giúp của các ghi chép bằng chữ Hán, chữ Nôm để có thể phục dựng.
--
Phường Đông Ngàn tại thành phố Từ Sơn (tính đến tháng 6/2025), tỉnh Bắc Ninh có khu phố Phù Lưu vốn là làng Phù Lưu hay còn gọi là làng Giầu. Trung tâm làng là chợ Giầu ngày xưa nổi tiếng buôn bán mặt hàng trầu cau (giầu cau).

HOÀNG HẬU PARAMECVARI (Huyền Trân Công Chúa) CỦA CHAMPA – Theo Góc nhìn An Nam

 

Trong tiến trình lịch sử dựng nước và giữ nước từ hơn cả ngàn năm trước cho đến những thế kỷ gần đây 15, 16; qua những sự kiện lịch sử ở Trung Hoa và Việt Nam đã có những bậc quân sư đầy mưu lược, trí dũng song toàn trong vấn đề điều binh khiển tướng ; với biết bao quân hùng tướng mạnh hàng hàng lớp lớp. Với gươm đao sắt thép, với hàng vạn mũi tên vô tình thâm độc, với hàng vạn chiến mã, vó ngựa mịt mù cát bụi phủ đầu quân giặc, với những đoàn chiến tựợng hung hãn vượt núi băng sông điên cuồng dẫm nát thây giặc, phá tan thành quách, nhưng không dễ dàng khuất phục được các bậc quân vương Vua chúa trên ngôi cao trị vì bá tánh thiên hạ. Cũng không khống chế được những anh hùng nắm trong tay hàng vạn binh mã, trấn thủ tung hoành một góc trời ngang dọc như anh hùng Từ Hải vai năm tấc rộng thân mười thước cao đã làm cho triều đình Hồ Tôn Hiến bó tay điên đầu:

Anh hùng riêng một góc trời
Gồm hai văn võ xé đôi sơn hà.

Duy chỉ có loại vũ khí bằng xương bằng thịt, dịu dàng mảnh mai, đài trang khuê các đầy sức quyến rũ đó là loài hoa biết nói, những bông hoa đã làm nghiêng thành đổ nước, sụp đổ cả một triều đại huy hoàng, hay đã chế ngự được những anh hùng đầu đội trời, chân đạp đất, dọc ngang vẫy vùng như anh hùng Từ Hải đã chết đứng giữa trời cũng vì hương sắc khuynh thành của bông hoa biết nói Thúy Kiều.
Đó là trong thi ca, còn trong thực tế qua sự kiện lịch sử, những Vua chúa nhà Hậu Lý đã từng sử dụng “Mỹ nhân kế” lôi kéo những viên Châu Mục tại các vùng Cao Bắc Lạng phía bắc Việt Nam, những lực lượng quân binh thiểu số này sẵn sàng theo Tàu để làm những ngọn lửa có thể bộc phát đốt cháy thiêu rụi cả khu núi rừng Việt Bắc lúc nào không hay: như Vua Lý Thái Tông gả Công Chúa Kim Thành cho đầu mục Châu Phong là Lê Tông Thuận, Vua Lý Thánh Tông gả Công Chúa Khâm Thánh cho Hà Di Khách – châu mục Tuyên Quang và Tuyên Hóa v.v. Đối với Trung Hoa: Chiêu Quân đã cầm chân được giặc Hung Nô. Công Chúa Lý Văn Thành con của Vua Lý Thế Dân đã làm cho Can Bố, một thủ lãnh mà dân Tây Tạng cho là “Thiên Thần xuất thế” trở nên ngoan ngoãn khi kết hôn với nàng Công Chúa họ Lý này ..v.v

TƯ DUY CHIẾN LƯỢC CỦA THÁI SƯ TRẦN THỦ ĐỘ Ở TẦM MỨC NÀO? – Vũ Bình Lục


Chân dung Thái Sư Trần Thủ Độ (mượn)
1.
NGƯ PHỦ VÀ VỊ CỨU TINH CỦA DÂN TỘC ĐẠI VIỆT

Người mà chúng tôi muốn nói đây, không ai khác, chính là Thống Quốc Thái Sư, Trung Vũ Đại Vương Trần Thủ Độ (1194-1264).
Một nhân vật lịch sử kiệt xuất. Một nhà chính trị, quân sự thiên tài. Một nhân cách lớn. Người đã kỳ công sáng lập triều đại nhà Trần, cải cách và củng cố, đồng thời, xây dựng nó không ngừng lớn mạnh, để không lâu sau đó, Đại Việt có thể đương đầu với tên đế quốc Mông Cổ khổng lồ, hùng mạnh nhất thế giới lúc đương thời.
Công lao như núi Thái Sơn của người cầm lái vĩ đại Trần Thủ Độ đối với nhà Trần, với nước Đại Việt ta, muôn đời bất hủ!
Uy tín chính trị của Trần Thủ Độ, bao trùm cả từ đời Lý sang đời Trần. Ở địa vị và công lao rất lớn như vậy, ông muốn đặc ân gì mà chả được?

NHỮNG CÂY BÚT BỊ BẺ NGÒI…- Dynh Anh

Hôm qua, tôi viết bài “Văn chương miền Nam trong mắt một đứa trẻ”, thì có người hỏi tôi: “Anh có biết số phận của những văn nghệ sĩ miền Nam sau ngày 30/4/1975 như thế nào không? 

Sau 75, hầu hết những cây bút gạo cội của nền văn chương miền Nam đều trải qua những tháng ngày trong lao tù của trại cải tạo. Bởi chính quyền mới cho rằng: cây bút của họ còn gây "tội ác" nặng nề hơn cả cây súng và chế độ mới gọi họ với cái tên: “Biệt kích văn hoá".
Ta thử tìm lại một giai đoạn lịch sử, một đoạn đường đời đau thương của một vài người trong số họ:
 
Doãn quốc Sỹ:


Sau 30/4/75, Thầy - tôi gọi là Thầy vì những cuốn Việt văn tôi học ở Chủng viện đều do Thầy biên soạn - ở lại Sài gòn và tiếp tục giảng dạy một thời gian ngắn trước khi bị bắt.Thầy bị bắt ngày 3/4/1976 trong chiến dịch nhắm vào "biệt kích văn hoá" của chính quyền mới. Thầy bị giam từ 1976  tại trại giam Gia Trung - Tây Nguyên và được thả vào năm 1980 nhờ sự can thiệp của các tổ chức quốc tế. Trong khi chờ bảo lãnh sang Úc, thầy viết tác phẩm "Đi" dưới bút hiệu Hồ Khanh và gửi ra nước ngoài xuất bản. Vì lý do này, thầy bị bắt lại vào tháng 5/1984 và bị thêm nhiều năm tù đày. Dù trải qua hơn 14 năm tù, thầy luôn giữ phong thái ung dung tự tại, dùng nhân cách kẻ sĩ để đối đầu với bão táp, nên bạn bè văn hữu gọi là người “Thung Dung Trượng Nghĩa".
 

TẠI SAO HUNGGARY VÀ BA LAN ĐƯỢC CHỌN LÀM THÀNH VIÊN ỦY BAN KIỂM SOÁT QUỐC TẾ HIỆP ĐỊNH PARIS ICCS ? – Tho Nguyen

Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonexia. Sau này Iran thay Canada

Anh bạn tôi Stephan Köster [1] có mặt tại Sài Gòn ngày 30.04.1975 đã rất ngạc nhiên khi gặp vài sĩ quan Ba-Lan đang ở đó. Họ đại diện cho một nước cộng sản bên cạnh chính quyền Sài Gòn suốt từ 1954. Ba-Lan là thành viêc Ủy ban giám sát Quốc tế hiệp định Geneve ICS [2] . Từ tháng Ba 1973 bên cạnh Ba-Lan còn có Hungary tham gia ủy ban kiểm soát quốc tế hiệp định Paris ICCS {3]. Sự hiện diện của hai nhà nước XHCN tại Sài Gòn để lại khá nhiều câu chuyện thú vị.


Vậy tại sao Mỹ lại chấp nhận hai nước XHCN này trong các ủy ban quốc tế về Việt Nam?
Đó chính là sự khác biệt trong chế độ chuyên chính vô sản mà đảng cầm quyền ở hai nước này thực thi. Phương Tây cho rằng hai nước này cởi mở hơn các nước XHCN khác. Ba Lan là nước XHCN duy nhất mà 80% nông dân không vào hợp tác xã. Nông nghiệp cá thể đã giúp nông dân Ba-Lan giữ được tiếng nói của mình và đó cũng là đất sống cho giáo hội thiên chúa độc lập. Việc tổng giám mục Karol Wojtyla xứ Krakow được bầu làm giáo hoàng Johannes Paul II vào tháng 10.1978 cho thấy sức mạnh của giáo hội Ba-Lan trong lòng nhà nước XHCN, sát biên giới Liên Xô.
 
Ở Hungary thì khác. 85% nông dân phải vào Hợp tác xã, nhưng ở đó vai trò của nông nghiệp được nhà nước coi trọng. Nhà nước đầu tư ồ ạt vào HTX giúp cho nông nghiệp Hungary phát triển rất tốt, xuất khẩu sang phương tây thu ngoại tệ. Cuộc sống ổn định khiến cho sự phản đối hợp tác hóa ở Hungary không hề gay gắt như ở Ba-Lan.
 
Ở Ba-Lan 100% giáo dân theo đạo thiên chúa (Catholic được coi là quốc đạo.) Ở Hungary ngược lại có nhiều giòng đạo: Catholic, Evangelian, Lutherian. Do đó sự khống chế của nhà nước với các giáo hội này mạnh hơn nhiều. Vụ bắt giam và xử án Giáo chủ József Mindszenty năm 1948 là một ví dụ.
 
Cuộc nổi dậy 1956 (khởi xướng bởi những người cộng sản Hungarry dưới sự lãnh đạo của thủ tướng Nagy Emre) đã thay đổi cách cư xử của nhà nước với các tôn giáo. Tổng bí thư đảng Công nhân XHCN Hungary Janos Kadar sau này đã đưa ra “Kádárismus“ và “Chung sống hòa bình” với nhiều thành phần trong xã hội. Từ 1964 Vatikan và Budapest đã nói chuyện với nhau.
 
Hè 1986, nhân đi công tác ở đài truyền hình Tiệp Khắc, tôi sang Hungary thăm anh Luat Nghiem Nguyen đang làm nghiên cứu sinh y khoa tại đại học Semelweis. Đã chứng kiến CNXH ở Đông Đức và Tiệp Khắc, hai nước phát triển nhất ở Đông Âu, khi sang đến Budapest, tôi nhận ra một không khí khác. Hàng hóa phương tây có mặt trong nhiều cửa hàng, tuy giá cao nhưng không bắt buộc phải mua bằng ngoại tệ mạnh trong các cửa hàng Intershop như Đông Đức. Từ các quảng cáo ngoài đường đến âm nhạc, tin tức trên đài đều có gì đó mới lạ với tôi. Đó có lẽ sự tác động của giòng ngoại tệ và văn hóa từ 10 triệu người Hung ở nước ngoài đổ vào cho 10 triệu người trong nước. Những kiều dân như George Soros đã gửi nhiều học bổng về nước. Năm 1971, chàng đảng viên Miklos Nemeth được học bổng tu nghiệp về kinh tế ở Harvard để rồi 1988, khi lên thủ tướng ông đã tận dụng hiểu biết và các mối quan hệ để tiến hành cải cách kinh tế.
 
Hồ Balaton của Hungary luôn là chỗ đến ưa thích của du khách từ Tây Đức cũng như Đông Đức. Không ít các cuộc hội ngộ gia đình hoặc giúp đỡ vượt biên từng xảy ra bên hồ này.
 
Những khác biệt trên đây so với các nước XHCN Đông Âu khác không chỉ phản ánh sự khai phóng trong xã hội, mà còn là cách nhìn nhận thực tế khách quan của các đảng cầm quyền ở hai nước này. Họ không thể mạnh tay hơn trước một cán cân lực lượng như vậy, nếu không muốn đổ bể.
 
Và chính các nền tảng xã hội, những dòng thông thương về tư tưởng và tài chính đó đã giúp đẩy mạnh thay đổi nhận thức trong các đảng cầm quyền. Không phải ngẫu nhiên mà từ năm 1973 Ba-lan đã hợp tác với hãng Fiat để sản xuất xe ô-tô Fiat Polska. Không ở nước Đông Âu nào mà công dân mỗi năm được phép đi sang phương Tây ba lần thăm thân như ở Hungary. Từ đó người ta thấy rằng việc cả hai nước đi đầu trong việc chuyển đổi thể chế ở Đông Âu vào cuối năm 1989 là điều tất yếu. Cả người dân và các nhà lãnh đạo cộng sản ở đây đã nhìn ra sự cần thiết của cải cách, sự vô nghĩa của đàn áp, bạo lực để rồi cả hai bên ngồi vào những hội nghị bàn tròn, mở đầu cho quá trình dân chủ hóa đất nước. Bức tường Berlin bị phá bỏ đêm 09.11.1989 chính là dưới tác động của các chuyển biến ở Ba-Lan và Hungary.
 
Một yếu tố phải nói đến là tinh thần dân tộc. Nhân dân và lãnh đạo cả hai nước này đều muốn thoát khỏi sự kìm tỏa của Liên Xô. Trong những biện pháp cứng rắn mà tướng Jaruzelsky áp dụng với công đoàn Đoàn kết của Lech Walesa có những toan tính làm sao đừng để Liên Xô đưa quân vào nước mình. Sau khi thay đổi chế độ, hai ông đã giải bày với nhau.
 
Chủ nghĩa dân tộc luôn là con dao hai lưỡi. Những kẻ theo chủ nghĩa dân tộc cực đoan của Hungary (đảng FIDESZ của Orban) và ở Ba-Lan (đảng PIS của anh em nhà Kaczyński) đều biết tận dụng tâm lý dân tộc chủ nghĩa một cách khôn khéo để tấn công vào nền dân chủ. Khi đã kích động đa số dân chúng, họ thường áp đảo trong quốc hội và thay đổi hiến pháp, phá bỏ mọi nguyên tắc phân chia và kiểm soát quyền lực như chúng ta đã chứng kiến.
 
Vấn đề là lòng yêu nước có thể lúc nào đó bị lợi dụng, nhưng ý chí dân chủ, hàm lượng tri thức và văn hóa phản biện trong xã hội đã không cho phép ngu dân thành công. Kết quả của hai cuộc bầu cử ở loại bỏ đảng PIS ở Ba-lan và loại bỏ FIDESZ ở Hungary đều có nguồn gốc chung như vậy.
 
Việc Peter Magyar đạt hơn 2/3 số ghế quốc hội thể hiện ý chí của người dân, phải bằng mọi cách khôi phục lại hiến pháp dân chủ đã bị Orban làm méo mó. Rất nhiều người Hungary sống ở các nước EU đã quay về đăng ký bầu cử ở quê nhà.
 
Tất nhiên cả Ba-Lan và Hungary đều sẽ còn trải qua nhiều khó khăn để bảo vệ được nền dân chủ. Mọi việc không hề đơn giản. Những người ủng hộ chủ nghĩa dân tộc cực đoan không bao giờ chịu thua. Đã thế lại luôn có những kẻ từ bên ngoài như Le Pen, Putin, hay Trump hà hơi, cổ vũ.
 
Chẳng có gì tự nhiên đến cả, tự do lại càng không.
Nhưng tôi đã hiểu, không phải đương nhiên mà những binh sĩ người Ba-Lan và Hungary lại có mặt ở Sài Gòn trước 30.04.1975.

---
[1] Chương 3, Hồi ký “Xuyên qua mọi chiến tuyến” Tho-nx.github.io
[2] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Geneve 1954 (International Commission of Suppervising ICS) bao gồm Canada, Ấn Độ và Ba Lan
{3] Ủy ban quốc tế giám sát hiệp định Paris 1973 (International Commission of Control and Suppervising ICCS) bao gồm Canada, Ba Lan, Hungary và Indonexia. Sau này Iran thay Canada
 
                                                                                       Tho Nguyen

NHÀ VĂN NGUYỄN THỊ VINH, “CON SỐ MỘT SÂU NẶNG” ĐỐI VỚI NHÀ VĂN NHẤT LINH – Trịnh Anh Khôi

 Trong bài này, tôi chỉ xin đề cập đến người phụ nữ đã nhắc, là nhà văn Nguyễn Thị Vinh. Bà là một người giỏi, đúng; bà có văn tài, đúng nốt, nhưng mối quan hệ và sự góp mặt của bà trong Tự Lực Văn Đoàn đã dấy lên theo năm tháng một câu hỏi: Có phải trong bà là mang tới “ba trong một bóng dáng”, vừa là bạn văn, vừa là người tình, mà cũng là đồng chí của vị chủ soái văn đoàn ấy, là nhà văn Nhất Linh?
Lúc đó gia đình tôi (TAK) còn ở ngôi nhà số 287/8 Phan Đình Phùng, Sài Gòn. Một buổi chiều 1968, một đôi vợ chồng chở nhau trên chiếc Lambretta đến gặp bố tôi. Người phụ nữ ấy tóc ngắn, đã hơn 40 nhưng vẫn rất đẹp mà lần đầu tôi nhìn thấy, còn chồng bà là họa sĩ Nguyễn Hữu Nhật; nếu làm thơ, thì là thi sĩ Động Đình Hồ.
... Tôi thấy ông Nhật đến nhà đã mấy lần, và biết ông chơi với bố tôi đủ thân thiết để khi bố tôi in quyển sách thứ ba, là truyện dài Ngục Tối Của Lòng Mình, thì ông đã vẽ bìa cho nó.
 

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

TỪ "GIO" KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG CÁC TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM, CHỮ HÁN, TỰ ĐIỂN CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN! VẬY, "GIO" TỪ ĐÂU? - Nguyễn Chương-Mt

MMMM

* "Gio" (chẳng hạn, trong "Gio Linh") là một hiện tượng ngôn ngữ quái lạ lắm đa!

/1/ Những chữ như "gió", "giỏ", "giò" thuộc về quốc âm tiếng Việt, được ghi trong CHỮ NÔM. Nhưng, "gio" thì không thấy.
Kể cả biến âm từ ngôn ngữ khác thì chữ Nôm cũng ghi lại. Như "Mỹ Tho", "Cần Thơ", "Sóc Trăng" (biến âm từ tiếng Khmer), "Phan Rang", "Nha Trang" (biến âm từ tiếng Chàm) đều được ghi lại bằng chữ Nôm. Muốn hiểu nghĩa thì tra cứu nguyên ngữ tiếng Khmer, tiếng Chàm thì biết.
(mấy chữ trên đây, sách vở đều đã giải thích nghĩa gốc rồi)
Tỉ như "gio" thuộc về biến âm đi nữa, nhưng cũng không thấy ghi lại trong chữ Nôm!

/2/ Chữ Hán thì hoàn toàn KHÔNG có âm HV nào đọc là "Gio", mà chỉ có âm HV đọc "Do". Như trong Đại Nam nhất thống chí, viết bằng chữ Hán, ghi tên địa danh 由靈, âm HV là "Do Linh" - "Do", không "Gio"!

/3/ Còn tự điển chữ Quốc ngữ ĐẦU TIÊN là Tự điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của giáo sĩ Đắc Lộ (Alenxander Rhodius, tiếng Pháp là Alexandre de Rhodes), xuất bản giữa thế kỷ 17 (năm 1651): hoàn toàn không có mục từ nào ghi “GIO” hết!

/4/ Hiện nay chúng ta viết bằng chữ Quốc ngữ abc, quí bạn gõ "g-i-o" thành "gio" dễ ợt; nhưng "gio" nghĩa gì thì không biết.
Hoặc "gio", rồi "Gio Linh"... có thể là biến âm từ ngôn ngữ khác, vậy từ ngôn ngữ nào để tìm hiểu nghĩa gốc (cũng "quái", cho dù biến âm thì chữ Nôm thông thường vẫn ghi lại, lưu lại kia mà! - như dẫn chứng /1/).

/5/ Ít nhứt là từ giữa thế kỷ 17, ký ức về chữ "GIO" đã bay đâu mất tiêu rồi (thành thử cuốn tự điển Việt -Bồ - La, chữ Quốc ngữ bấy giờ không ghi "Gio")!
Chữ Hán thì chắc chắn không có âm HV "gio".
Còn chữ Nôm, từ thế kỷ 17 trở ngược TRƯỚC ĐÓ, có ký tự nào được dùng để ghi và đọc là "gio" không?
Quí bạn nào biết, XIN GIÚP CHO BIẾT ký tự Nôm đó viết ra sao (cho biết nguồn mà ký tự đó được lưu lại).

* Sẵn trớn, nói nhanh: có người cho rằng "tro" đọc thành "gio", ồ, đó là cách phát âm của một số nơi ngoài Bắc, trong khi ở đây "Gio" (Gio Linh) là phát âm của người Quảng Trị (không đọc "tro" thành "gio"); mặt khác, kể cả người ngoài bắc phát âm "tro" thành "gio", tự điển chỉ ghi "Tro", không có "gio".

TẠM THAY LỜI KẾT

Vì chưa dám, chưa thể kết luận, nên "tạm thay lời kết".
Sự "biến mất" rất có thể liên quan đến việc "trục xuất" ngôn ngữ cách nào đó - chỉ thấy xuất hiện "gio" trở lại trong CHỮ QUỐC NGỮ mãi về sau này, nhưng do bị "cắt đứt", "trục xuất" nên không còn hiểu cho tỏ tường "gio" từ đâu ra, và ý nghĩa (chẳng hạn nghĩa của "Gio Linh" từ nguyên ngữ gốc).
Không chỉ "Gio", mà còn một số từ ngữ khác nữa cũng bị "đứt mạch" nên hiện nay nói mà không còn rõ nghĩa.
Soi tỏ, "tìm về dấu xưa", cũng là TÌM VỀ những biến động ẨN KHUẤT trong LỊCH SỬ ...
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

ĐỒNG ÂM “BÍCH” TRONG TỪ HÁN VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮

Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng, góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.

 
Chúng là những chữ Bích nào?

Bích  nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc  () chỉ ý và chữ Bách  làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...
 
                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
 
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
 
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
 
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
 
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
 
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ hoài riêng kẻ khóc!”
                (Tản Đà)
 
Bích  có nghĩa là tường vách.

Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ  biểu ý và chữ Bách  biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,... Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
 
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
 
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
 
Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
                             (Trần Tuấn Khải)
 
Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
                                  (Đinh Hùng)
 
Bích  có nghĩa là xanh biếc.

                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch, không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh, đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
 
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
 
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
 
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
                (Hồ Xuân Hương)
 
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
                                  (Bích Câu kỳ ngộ)
 
                                                                      Bài viết của Khánh Ly
                                                                       Trích từ Tri thư đạt lễ

ĐÁNH GIÁ LẠI HOÀNG CAO KHẢI – PGS.TS Chương Thâu



Trong giới nghiên cứu sử học, nhà sử học - PGS.TS Chương Thâu nổi tiếng là người chuyên ... lật xới những gì mà lịch sử hoặc chính ông còn nghi vấn. Kết quả gần đây nhất là tác phẩm Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải - nhân vật vốn bị liệt vào hàng phản diện bởi những tội trạng khá nặng nề. Nhân Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải được in và phát hành (NXB Nghệ An, 2007, Chương Thâu giới thiệu ), Thanh Niên có cuộc trao đổi thú vị với nhà sử học Chương Thâu.

CHÙM THƠ TỊNH BÌNH


    

 
 CAM LỒ TINH KHÔI
 
Về đâu trăm vạn nẻo đường
Trong veo giọt nước hay sương đầu cành
Vô phiền vô nhiễm vô tranh
Trời cao biển rộng loanh quanh sơn hà
 
Về đâu cát bụi đời ta
Phận sâu cái kiến cỏ hoa thương cùng
Mây trời nhật nguyệt riêng chung
Trăng in đáy giếng đóng khung gương hồ
 
Mịt mờ muôn lối hư vô
Giọt sương bé nhỏ dại khờ đơn côi
Từng hồi chuông vọng xa xôi
Là mưa hay giọt tinh khôi cam lồ
 
Hải triều từng lượn sóng xô
Dấu chân ngày cũ mơ hồ kiếp sương
Hơi tàn giũ sạch ghét thương
Là sông hay biển còn vương vấn gì...
 
 
NIỀM VUI BÉ MỌN
 
Khi mùa xuân đã ngoài tầm với
Đong đưa trên tầng cao sắc lá xanh
Dây thường xuân gọi tôi ngoài cửa sổ...
 
Dẫn tôi vào tinh khôi
Xòe nở tiếng chim buổi sớm
Vạt gió ủ hương bông hoa nào giấu mặt
Có chút bình yên trong tia nắng mai đầu ngày
Mỉm cười gọi tôi đi...
 
Những bước chân xuân xa dần
Lũ bướm ong thôi mê mệt với muôn hồng nghìn tía
Con đường tôi qua
Một chút bụi cát và gai góc
Chẳng nỡ hái bông hoa dại bên đường
Bởi nâng niu niềm vui bé mọn
Dành cho ai đó vô tình ngang qua...
 

TÌNH QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng

 
  


Tình Quê
 
1.
Người về… một sớm bình minh
Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi thơ…
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh mơ cánh đồng
Màu trời xanh biếc, xanh trong
Chích chòe réo gọi hừng đông lên rồi
Một đàn chim sẻ rong chơi
Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi bồi hồi
Trời cao lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi bãi bờ
Cảnh quê như thực, như mơ
Bâng khuâng, xao xuyến bài thơ không lời
Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm
Nắng nghiêng xuống gót chân mềm
Áo nâu trong gió bóng em bồng bềnh…
 
2.
Rời xa quê cũ buồn tênh
Dòng sông chảy mãi, tuổi tên chất chồng
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều bay giữa mênh mông trời chiều
Lá dừa chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu đậm tình
Nắng rơi từng giọt lung linh
Rơi trên nón lá rung rinh bóng tròn
Chiều tà nắng xuống đầu non
Ai mang giấu ánh hoàng hôn cuối ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Tan vào nỗi nhớ tràn đầy xanh xao
Gió mơn man, rét hanh hao
Thấm vào áo mỏng ngọt ngào tái tê
Người bình dị… người chân quê
Tay nâng ly rượu hẹn thề tri âm…
 
Nha Trang, tháng 04. 2026
Lê Kim Thượng
                

RÕ KHỈ - Thơ Lê Phước Sinh


  


RÕ KHỈ
 
Bị siết Vòng Kim Cô
Thiên Đình chơi xỏ lá phong làm Đại Thánh
Nhổ lông, gãi háng, nhăn nhó, trừng mắt...
dáo dác
ôm Thiết Bảng đằng vân tìm phương : - Bơ Cứu...
 
                                                     Lê Phước Sinh

CHÙM THƠ NGẮN CỦA TỊNH BÌNH

 


1. THÁNG TƯ
 
Hạ về thương quá lời ve
Chói chang cái nắng gọi hè ra chơi
Dỗi hờn mây thả mưa rơi
Đỏ hoe mắt phượng đầy trời tương tư...
 
 
2. SEN
 
Hiến dâng tất cả cho đời
Hoa thân rễ lá ngát lời sen hương
Giữa trời trơ mảnh đài gương
Im soi bóng nắng chân phương lối về...
 
 
3. QUÊ NHÀ
 
Gọi chi thao thiết tiếng gà
Vạch màn sương khói quê nhà ta đâu
Mịt mờ mấy nẻo bể dâu
Non xa biển biếc vọng sầu cố hương...
 
                                          Tịnh Bình

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

TỪ ẤY – Thơ Lê Kim Thượng


   

Từ Ấy
 
1.
Em xa từ ấy đến giờ
Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây
Nhớ tà áo gió bay bay
Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…
Bàn tay mười ngón búp măng
Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời
Tóc thề che nửa lưng người
Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong
Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong
Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…
Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn
Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm
Ai làm nhung nhớ nhiều thêm
Ai làm ngây ngất con tim chung tình
Thương yêu cho hết lòng mình
Qua bao năm tháng chuyện tình không phai…
 

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh  có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh  thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật  và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh  với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

TÂY DU KÝ THÓA MẠ CHU NGUYÊN CHƯƠNG NHƯ THẾ NÀO? - Bài viết của Lại Nhật Quang



Độc giả khi tìm hiểu về đời sống cá nhân của Ngô Thừa Ân sẽ thấy không khó hiểu khi mà nhìn thấy trong Tây Du Ký đâu đâu cũng là những mật ngữ giễu nhại chế độ thống trị của nhà Minh đương thời, và đương nhiên không thể thiếu hoàng đế khai quốc nhà Minh - Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương
Hãy cùng xem những mật ngữ nào trong Tây Du Ký công khai thoá mạ vị hoàng đế này
 
1. Trấn Nguyên Đại Tiên
 
Là ông chủ sở hữu cây nhân sâm ở Ngũ Trang Quán - tác dụng của cây nhân sâm này thế nào thì anh em đọc truyện xem phim đều đã rõ, tôi không nhắc lại
Trấn Nguyên Đại Tiên còn tục gọi là Trấn Nguyên Tử - nghĩa là trấn áp giặc Nguyên, mà người đuổi cổ nhà Nguyên về thảo nguyên Mông Cổ là Chu Nguyên Chương
Trấn Nguyên Tử mang tiếng là ông tổ dòng Địa Tiên nhưng hành xử thì nhỏ mọn, tiểu nhân. Trọng nhau thì gọi là "cố nhân", khinh nhau thì thành tù nhân, bốn thầy trò Đường Tăng bị lão dùng đủ thứ cực hình như thả vạc dầu, lấy roi đồng quất toác da nát thịt, thế nhưng khi Ngộ Không ngỏ ý đi tìm thuốc chữa cây cho lão thì lão lại nói : Nếu ngươi cứu được cây nhân sâm của ta, ta bỏ qua mọi chuyện và kết nghĩa anh em. Ông vừa mới dùng hình với người ta xong phút sau đã muốn kết nghĩa anh em, con người gì lật mặt nhanh hơn bánh tráng
Đây là chi tiết ám chỉ thói bạc bẽo, vong ơn phụ nghĩa của Chu Nguyên Chương với các tướng lĩnh của mình, khi hoạn nạn thì trọng dụng, khi an hưởng thái bình thì đồ sát hết