CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

THIÊN TẢI NHẤT THÌ 千載一時 - Bài viết của Khánh Ly



“Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.”
                              (Truyện Kiều)
 
Thiên tải nhất thì, chữ Hán viết, là một thành ngữ dùng để chỉ những dịp hiếm hoi khó gặp. Trong tiếng Việt, thành ngữ này thường được diễn đạt bằng những thành ngữ quen thuộc như “ngàn năm một thuở”, “trăm năm khó gặp”, ngàn năm có một,... Tất cả đều mang nghĩa dịp may mong manh xuất hiện trong đời mà ta biết rằng sẽ khó lòng gặp lại lần hai.

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

BA SAO GIỮA TRỜI - Bài viết của Khánh Ly



“Đêm thu, gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.”
                                           (Truyện Kiều)
 
Ba sao giữa trời, nguyên văn chữ Hán viết “tam tinh tại thiên 三星在天, xuất phát từ Kinh Thi, phần Đường phong 唐風, bài Trù mâu 綢繆 rằng: “Trù mâu thúc tân, tam tinh tại thiên 綢繆束薪,三星在天. Tạm dịch là: buộc chặt bó củi, ngẩng lên thấy ba ngôi sao giữa trời. Trong văn chương cổ, Tam tinh 三星 thường dùng để chỉ ba ngôi sao sáng nằm giữa bầu trời đêm, cũng là dấu hiệu cho biết đêm đã về khuya.

BẾ GIẢNG 閉講 - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Bế giảng, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ   
 

Bế giảng, chữ Hán viết, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) là cách gọi lễ kết thúc một khóa học hoặc một năm học. Đây là một từ được sử dụng rất quen thuộc trong môi trường giáo dục Việt Nam, thường đi đôi với khai giảng 開講. Dẫu vậy điều khá thú vị là bế giảng lại không xuất hiện với tư cách một từ cố định phổ biến trong Hán văn cổ. Đây là một tổ hợp mang tính tạo nghĩa tương đối muộn, hình thành từ nghĩa sẵn có của hai chữ Bế  và Giảng .

NỖI NHỚ - Thơ Lê Kim Thượng


   
 

Nỗi Nhớ
 
1.
Tôi về một sớm bình minh
Vịn vào nỗi nhớ tìm hình tuổi thơ…
Mái tranh khói tím giăng mờ
Gió đưa hương lúa đơn sơ mơ hồ
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô bềnh bồng
Heo May thả gió trên đồng
Lúa mùa đến cử đòng đòng trổ bông
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều treo giữa mênh mông trời chiều
Cánh chim chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu ngọt ngòn
Chiều tà nắng xế đầu non
Ai đem giấu nắng hoàng hôn cuối đèo
Gió mơn man, gió hanh hao
Thổi vào mái lá ngọt ngào tái tê…
 
2.
Tôi giờ xa xứ, xa quê
Nhớ quay quắt nhớ lời thề đinh ninh
Nhớ mông lung, nhớ vô hình
Thèm trông một cụm lục bình xa khơi
Nhớ nhiều tiếng hát “À ơi…”
Ngọt ngào, chân chất những lời thương yêu
Giữa đồng bóng Mẹ liêu xiêu
Áo nâu đã bạc vá nhiều đường may…
Hoa sen nở những ngón tay
Cánh hoa tim tím hương bay bồi hồi
Phù sa bên lở bên bồi
Quê hương thương lắm một thời đắm say…
Trên trời mây trắng vẫn bay
Dòng sông vẫn chảy, hàng cây vẫn còn
Lâu rồi lòng dạ héo hon
Người đi biệt xứ héo mòn tình quê…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
 Lê Kim Thượng

BỒNG BỘT 蓬勃 – Bài viết của Trúc Âm



Bồng bột, chữ Hán viết 蓬勃, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), từ này được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là sôi nổi, có khí thế mạnh mẽ; nghĩa thứ hai là sôi nổi, hăng hái nhưng thiếu chín chắn và không lâu bền, thường dùng để nói về tính cách hoặc tình cảm.
Đây vốn là một từ gốc Hán dùng để chỉ trạng thái hưng thịnh, phát triển mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Cụ thể:
Bồng  vốn trỏ một loại cỏ mọc nhanh và sum suê, sau phát triển thành nét nghĩa rậm rạp, tươi tốt, sinh trưởng mạnh.
Bột  có nghĩa là nổi lên, dâng lên, hưng khởi hoặc phát triển mạnh mẽ mà ta hay gặp trong các từ như bột phát, hưng bột,...
 

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

TRẢ NỢ - Thơ Lê Kim Thượng


   

Trả Nợ
 
1.
Người về trả nợ tháng năm
Trả quê nửa mảnh trăng rằm ngày xưa
Người về cuốc nắng, trồng mưa
Mồ hôi nhỏ xuống đường bừa rẽ đôi
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Có con én nhỏ xa xôi giữa trời
Chuồn chuồn đậu đọt mùng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi mịt mù…
Trưa hè man mác lời ru
Đong đưa cánh võng, vi vu gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành gió đưa…
Trâu về theo tiếng mõ khua
Xa xa vọng tiếng chuông chùa ngân nga
Hoàng hôn trăng đậu mái nhà
Ánh vàng gieo rắc như xa như gần…
 
2.
Người xa quê nhớ bâng khuâng
Xóm làng xưa cũ, người thân vẫn còn
Gái quê môi thắm vẫn son
Áo bà ba tím tươi giòn xốn xang
Mồ hôi đọng giọt nắng vàng
Sáng trên vần trán, mùa màng reo vui…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ trong tôi bồi hồi
Nắng buồn ôm núi mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời đau thương
Theo con Hạc trắng mù sương
Mẹ về với cõi vô thường xa đưa…
Ước gì đời lặng gió mưa
Trở về quê cũ rau dưa qua ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Rượu quê đầy cạn say say xao lòng…
         
Nha Trang, tháng 05. 2026
  KIM  THƯỢNG

THANH THUÝ: TIẾNG HÁT LƯỠNG TÍNH ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ - Long Phạm


Danh ca Thanh Thúy

Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, nữ trầm (contralto) là loại giọng cực kì hiếm gặp. Nó ít xuất hiện hơn rất nhiều so với nữ trung (mezzo soprano) và nữ cao (soprano).
 
Các giọng nữ có âm vực trầm và âm sắc hơi tối như Khánh Ly, Bảo Yến, Thu Phương, Hoàng Quyên, Ngọc Anh, Thanh Lam, Uyên Linh, Hồ Ngọc Hà... thường bị nhầm là nữ trầm. Nhưng thực chất, họ vẫn là nữ trung.
Ca sĩ Bảo Yến còn cho rằng: "Tôi chưa thấy một nữ trầm nào ở Việt Nam".
 
Theo định nghĩa trong nhạc cổ điển, giọng nữ trầm được tạo bởi contre (trầm) và alto (cao) - do trước đây alto là thiếu niên nam hoặc castrato. Đây là giọng nữ trầm nhất, hát chủ yếu bằng giọng ngực. Giọng dày, trầm, khoẻ.
 
Đặc điểm của một nữ trầm gồm:
- Màu giọng rất dày, có độ sâu, nặng và tối (hơn nữ trung).
- Hát với man tone và có tính lưỡng tính (hermaphrodite), tức là có thể hát như một giọng nam cao.
- Tessitura (quãng hát thoải mái) nằm trên âm khu trầm và trung trầm.

Trong đó, tính lưỡng tính là tiêu chuẩn lớn cho một nữ trầm.
Xét theo các điều kiện trên, Thanh Thúy là nữ ca sĩ duy nhất ở Việt Nam từ trước đến nay sở hữu giọng nữ trầm.
Không giống với tất cả các nữ ca sĩ khác, âm vực của Thanh Thúy mở rộng xuống rất thấp. Cô có thể hát thoải mái, nhả chữ ở C3, C#3 và xuống tận A2, B2, ngang với âm vực của một giọng nam.

CÕI TRỌ, GIÓ THÁNG 5, KHÚC MƯA KHUYA, CÂU CHUYỆN ĐÁM MÂY – Thơ Tịnh Bình


 


CÕI TRỌ
 
Phía trước là tiếng chim
Xôn xao miền nắng lạ
Cuối trời mây trắng lóa
Ở trọ chốn không nhà
 
Trôi về đâu nước cuốn
Nhánh rong rêu bọt bèo
Ơ kìa mùa thu nhỏ
Gọi ngàn lá về theo
 
Căn nhà xưa hiu quạnh
Vắng dáng quen thường ngồi
Run run mùa gió trở
Hao gầy vành trăng côi
 
Người đi trong tịch lặng
Ngày như sương mơ hồ
Thả vào trong mưa muộn
Phím đàn lời hư vô...
 

SAO XÓT XA NHƯ RỤNG BÀN TAY - Đặng Nguyên Triết


Nhà thơ Hoàng Cầm

Trong một nhóm bán sách cũ, có người đang rao bán tờ Sơ yếu lý lịch của thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1992, lúc ông vừa tròn 70 tuổi.
Ông không ghi tên khai sinh Bùi Tằng Việt, mà vẫn ghi Bùi Hoàng Cầm.
Đọc tới dòng ông khai “Từ 1958: Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, mình lặng người một lúc lâu.

Năm 1948, ông viết Bên kia sông Đuống, có hai câu:
 
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc,
Sao xót xa như rụng bàn tay”
 
thì gần nửa thế kỷ sau khi nghĩ về đời mình “Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, ông có xót xa như rụng cả đôi bàn tay?



Trả lời phỏng vấn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê, ông nói:

“Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối. Rồi lặng lẽ mình cũng tự biết là có lẽ khó khăn lắm, thì mình cứ sáng tác để đấy thôi, cho vào ngăn kéo rồi một vài anh em đọc với nhau, chứ không truyền bá đi đâu cả. Xong rồi dần dần thời gian cứ thế kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 88.”
 

LUÂN HỒI – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Luân  Hồi
 
1.
Yêu nhau từ thuở còn thơ
Nào ai biết được… ai ngờ mai sau…
Ru em ngày đã đổi màu
Lời ru có những “… trái sầu rụng rơi…”
Cà phê giọt đắng đọng rơi
Giọt buồn đen thẫm cạn lời thủy chung
Yêu thương dẫu có vô cùng
Nào ai biết được… ngàn trùng nhớ mong
Trái tim rạn vỡ trong lòng
Tình xa, tình lỡ… xoay vòng buồn thiu
Thương nhau ngày ấy thật nhiều
Không duyên, không nợ hắt hiu tình buồn
Thôi đành “…cắt dứt dây chuông…”
Ai thương, ai nhớ, ai buồn, ai say
Cuộc tình mòn mỏi hao gầy
Áo hồng chưa mặc thì nay mất rồi…
 
2.
Dù cho ước hẹn thề bồi
Nợ duyên không có, yêu rồi vẫn xa
Tình đầu đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, cố xa càng gần
Lời tình thề hẹn bao lần
Lời tình trôi giữa Sông Ngân mất rồi
Bao năm trông ngóng phương trời
Quầng thâm đôi mắt… nhớ người mai sau
Những chiều trời đổ mưa mau
Nhìn mưa lặng nhớ một câu thơ buồn
Làm sao trời hết mưa tuôn
Để cho nước mắt… ngược nguồn về tim
Bóng em biền biệt khuất chìm
Đã đi… đi mất biết tìm về đâu
Nợ em một Khối Tình Sầu
Tìm em tôi trả…kiếp sau Luân Hồi…
 
 Nha Trang, tháng 06. 2026
   KIM  THƯỢNG

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

ÔNG NGUYỄN PHI KHANH YÊN NGHỈ TRÊN ĐỈNH NÚI BÁO ĐỨC (CHÍ LINH) - Theo trang Giai Thoại Xưa



Mất ở Trung Quốc, vì sao thân phụ Nguyễn Trãi lại yên nghỉ trên đỉnh núi Báo Đức?
Có một ngôi mộ nằm lặng lẽ trên đỉnh núi cao ở Chí Linh, muốn lên được đến nơi, có người phải đi từ sáng đến quá trưa mới trở xuống. Con đường ấy vòng vèo qua rừng, có đoạn dốc dựng, có đoạn cây cối che kín lối đi. Thế nhưng suốt nhiều đời qua, hậu duệ dòng họ Nguyễn Quy và những người yêu lịch sử vẫn tìm về nơi ấy để thắp hương cho một bậc đại nho đặc biệt: cụ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi.
 

TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU, RU KHÚC VE TRƯA, NGOẢNH NHÌN HẠ CŨ – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU...
 
Phía biển xa kia là gì ?
Sao cánh buồm xuôi mãi
Chân trời màu đỏ thẫm
Vời vợi mắt hoàng hôn
 
Có hay không niềm bình yên vĩnh cửu
Cánh thiên di lưu trú tận đường trời
Tiếng gọi nào hư thực
Một lần dắt ta đi...
 
Lay đơn độc mùi khói hương không tuổi
Quay mặt lại là bờ bến cũ
Những bông hoa dệt nghìn tia ánh sáng
Cố hương xưa muôn ức tinh cầu
 
Ta tìm bản thể ta
Chưa khôn khuây nỗi nhớ
Trước biển hỏi nghìn câu thinh lặng
Chỉ sóng bạc đầu mãi một ngôn âm...
 

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động  này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động  này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động  này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động  này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc.