* Đó là hậu quả của não trạng chỉ nhớ âm Hán-Việt (mà cũng không rành rẽ cho lắm), và quên mất ... tiếng Việt (Nam âm).
/I/ TRƯỜNG HỢP 1:
Dùng ký tự 長 mang nghĩa "dài, lâu dài".
1a) Đọc là "Trường", như "Trường thọ" (長壽), nghĩa là "sống lâu".
Cũng đọc là "Tràng", như khu danh thắng "Tràng An" (長安) ở Ninh Bình, nghĩa là "sự bình yên (yên ổn) lâu dài".
(長 ngoài cách đọc "trường / tràng", còn đọc là "trưởng" mang nghĩa là người đứng đầu như "bộ trưởng" 部長 đứng đầu một Bộ, "hiệu trưởng" 校 長 đứng đầu một trường học)
1b) Vậy, 長 đọc "trường", đọc "tràng" đều được hết thảy. "Trường Tiền" đổi thành... "Tràng Tiền" đâu sai, có những người biện bạch như rứa. Ồ, ở đây mắc lỗi vội vàng, hấp tấp! Thủng thẳng, trong bài sẽ diễn giải về cái thói ba chớp ba nháng này.
Tạm thời cứ sửa thành "tràng" (nghĩa là "lâu dài", 長). Nhưng, "lâu dài" của cái gì? cái gì "lâu dài"? Là "tiền" ("tràng tiền"). Vậy, "tiền" mang nghĩa gì?
"Tiền", âm Hán-Việt của 前, nghĩa là "trước tiên / phía trước/ đi trước" => Tức "tràng tiền" là "phía trước lâu dài", "trước tiên lâu dài", hay "sự đi trước lâu dài". Hiểu nổi không? Hoàn toàn vô nghĩa!
Hay là "tiền", âm Hán-Việt của 錢, nghĩa là: phí tổn (tiền nong). Vậy, "tràng tiền" tức là "phí tổn lâu dài". Tối nghĩa quá sức. Người dân xứ Huế không đời nào lại đặt ra cái tên mang nghĩa ngờ nghệch như rứa.
1c) Tắt một lời, khi gọi "Tràng An" (長安, "sự bình yên lâu dài) thì có nghĩa rành rọt. Nhưng, phỏng theo mà sửa thành ... "Tràng Tiền" thì VÔ NGHĨA (như diễn giải ở trên). Ốt dột gì đâu!










