CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

TRẦN HÚC, LƯỠNG QUỐC PHÒ MÃ - Bài viết của Tô Như

Trong gần 200 năm, nhà Trần liên tiếp nảy ra mấy người như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Trần Thiêm Bình (mạo xưng là cháu Trần Thánh Tông) muốn mượn sức triều đình phương Bắc để về làm vua nước ta.
Ở cuối nhà Trần lại nảy ra một người đặc biệt hơn hết, muốn mượn sức Chiêm Thành để về làm vua ĐạiViệt. Đó là Ngự Câu Vương Trần Húc.
 
                  Tranh vẽ tình cảnh loạn lạc cuối thời Trần (Tranh có tính chất minh họa cho bài).              
                   Nguồn: Sưu tầm 
 
HOÀNG TỬ KIÊM PHÒ MÃ
 
Ngự Câu Vương Trần Húc là con của vua Trần Nghệ Tông. Nghệ Tông lên ngôi không lập con mà lại chọn em trai là Cung Tuyên Đại Vương Trần Kính làm Hoàng thái tử. Đến năm 1372 thì nhường cho Kính lên làm vua, tức Duệ Tông, còn bản thân mình làm Thái thượng hoàng.
Ngự Câu Vương Trần Húc là con yêu của Nghệ Tông, được phong là Quan phục Đại vương. Theo sử gia Ngô Sĩ Liên bàn thì tước vương nay có lẽ bởi được yêu nên tuy mới là bậc vương mà đã được ban cho áo mão của Đại vương.
 

GIAI ĐIỆU LÊ UYÊN PHƯƠNG: BÍ MẬT CỦA “NỖI BUỒN TRONG CUNG TRƯỞNG” - Bài viết của Ngu Yên



Phần lớn người yêu nhạc Lê Uyên Phương đến với ông qua cảm xúc: cái nồng nàn, cái khắc khoải, cái buồn da diết. Ít ai dừng lại để hỏi: bằng những thủ pháp âm nhạc nào mà ông tạo ra được hiệu ứng ấy? Nhưng chính khi đặt câu hỏi này, ta mới chạm tới một trong những bí mật thú vị nhất của hiện tượng Lê Uyên Phương, một bí mật mà ngay cả những nhạc sĩ bậc thầy đương thời cũng phải dừng lại suy sâu.
 

“CÒN ĐÂU CÁNH BƯỚM ?”, TƯỞNG NHỚ NGHỆ SĨ NGÂM THƠ HỒ ĐIỆP – Bái viết của Trịnh Anh Khôi



Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu (Có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Tý) sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Bà vào Nam năm 1954. Thi sĩ Đinh Hùng đã phát hiện ra tài năng ngâm thơ thiên phú của bà nên đặt cho nghệ danh Hồ Điệp.
Có thể giải thích cái tên được hàng triệu người yêu mến này: Hồ Điệp nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ngâm của bà nhẹ nhàng, mỏng manh, nhưng lại nhiều mầu sắc như những cánh bướm.
 

CÁT BỤI – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Cát bụi
 
1.
Xa quê xứ lạ dung thân
Trong lòng vẫn mãi bâng khuâng trông chờ…
Quê nhà đẹp tựa bài thơ
Sông dài nối những bến bờ chiêm bao
Chiều buông vạt nắng hanh hao
Gió đùa sóng lúa dạt dào mông mênh
Cánh diều no gió thênh thênh
Trời xanh xanh thẳm bồng bềnh mây trôi
Gió lùa mây xuống góc trời
Ráng chiều sắc đỏ chơi vơi dạt dào
Nắng chiều rũ bóng xanh xao
Xô nghiêng chiều tím ngã vào hoàng hôn…
Những ngày chớp biển mưa nguồn
 
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng buồn ru con
Lời ru tha thiết héo hon
“Cái cò lặn lội… nỉ non…” chung tình…
 
2.
Một mình thì vẫn một mình
Cô đơn một bóng, một hình đơn côi…
Quê nhà xa cách phương trời
Chôn nhau, cát rốn là nơi thiếu thời
Gom từng chiếc lá vàng rơi
Đếm từng nỗi nhớ đầy vơi thắm đằm
Người đi, đi mãi biệt tăm
Quê nhà là tiếng gọi thầm mà đau
Chỉ là cát bụi mai sau
Cuối đời chỉ thấy một màu thê lương
Nhân sinh mộng ảo vô thường
Trầm luân một kiếp vấn vương làm gì…
Nhớ nhiều ngày ấy Mẹ đi
Rưng rưng nước mắt chia ly không lời
Khói nhang đưa tiễn một đời
Mẹ đi về phía xa vời Tây Phương…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
       KIM  THƯỢNG

HIỂU NGUYỆT 曉月 - Bài viết của Khánh Ly



Hiểu nguyệt, chữ Hán viết, nghĩa là vầng trăng lúc rạng đông.
Hiểu  là trời hửng sáng sau một đêm dài. Sách Thuyết văn giải tự giảng: Hiểu là sáng sủa. Chữ này còn phái sinh những nét nghĩa khác như biết rõ, hiểu rõ hoặc làm cho người khác hiểu mà thường gặp trong các từ am hiểu, hiểu ngộ, hiểu dụ,...
Nguyệt  là mặt trăng. Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như nhật nguyệt, nguyệt quang, nguyệt sắc, nguyệt dạ, nguyệt thực, tuế nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Nguyệt này.

TRẦM KHÚC HẠ, GIÓ QUÊ, DƯỚI RẶNG HOÀNG HÔN – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRẦM KHÚC HẠ
 
Không gì mới giấc mơ đời cũ kỹ
Mùa quen hơi tiếng ve hạ trưa mòn
Con mọt gỗ nhai hoài lời đay nghiến
Hạ oi nồng mưa giận dỗi trời không
 
Chiều sót lại vài mặt người hoang hoải
Gió về đâu và nắng về đâu
Chân trời cũ sao lối về đã khác
Trống vắng ơi không bắc nổi nhịp cầu
 
Mây ảo vọng trùng trùng muôn phương hướng
Tiếng chim xưa khắc khoải gọi ta về
Mưa thong thả giọt tẩy trần chiếu lệ
Cõi tạm nào phản chiếu bóng hình ta ?
 

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

NHÀ LAN (LAN THẤT 蘭室) - Bài viết của Khánh Ly




“Nhà lan sum họp bạn mai,
Đã trong tần tảo, lại ngoài ty ca.”
                     (Bích Câu kỳ ngộ)

Nhà lan, tức Lan thất 蘭室, nghĩa là căn phòng thơm hương lan. Vì Lan vốn là loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao và tao nhã, cho nên đây là một mỹ từ, dùng để chỉ nơi ở thanh nhã của phụ nữ trong văn chương cổ điển, tương tự với những cách gọi khác như Huệ lâu 蕙樓 (lầu huệ) hay Tiêu phòng 椒房 (phòng tiêu).

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

THIÊN TẢI NHẤT THÌ 千載一時 - Bài viết của Khánh Ly



“Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.”
                              (Truyện Kiều)
 
Thiên tải nhất thì, chữ Hán viết, là một thành ngữ dùng để chỉ những dịp hiếm hoi khó gặp. Trong tiếng Việt, thành ngữ này thường được diễn đạt bằng những thành ngữ quen thuộc như “ngàn năm một thuở”, “trăm năm khó gặp”, ngàn năm có một,... Tất cả đều mang nghĩa dịp may mong manh xuất hiện trong đời mà ta biết rằng sẽ khó lòng gặp lại lần hai.

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

BA SAO GIỮA TRỜI - Bài viết của Khánh Ly



“Đêm thu, gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.”
                                           (Truyện Kiều)
 
Ba sao giữa trời, nguyên văn chữ Hán viết “tam tinh tại thiên 三星在天, xuất phát từ Kinh Thi, phần Đường phong 唐風, bài Trù mâu 綢繆 rằng: “Trù mâu thúc tân, tam tinh tại thiên 綢繆束薪,三星在天. Tạm dịch là: buộc chặt bó củi, ngẩng lên thấy ba ngôi sao giữa trời. Trong văn chương cổ, Tam tinh 三星 thường dùng để chỉ ba ngôi sao sáng nằm giữa bầu trời đêm, cũng là dấu hiệu cho biết đêm đã về khuya.

BẾ GIẢNG 閉講 - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Bế giảng, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ   
 

Bế giảng, chữ Hán viết, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) là cách gọi lễ kết thúc một khóa học hoặc một năm học. Đây là một từ được sử dụng rất quen thuộc trong môi trường giáo dục Việt Nam, thường đi đôi với khai giảng 開講. Dẫu vậy điều khá thú vị là bế giảng lại không xuất hiện với tư cách một từ cố định phổ biến trong Hán văn cổ. Đây là một tổ hợp mang tính tạo nghĩa tương đối muộn, hình thành từ nghĩa sẵn có của hai chữ Bế  và Giảng .

NỖI NHỚ - Thơ Lê Kim Thượng


   
 

Nỗi Nhớ
 
1.
Tôi về một sớm bình minh
Vịn vào nỗi nhớ tìm hình tuổi thơ…
Mái tranh khói tím giăng mờ
Gió đưa hương lúa đơn sơ mơ hồ
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô bềnh bồng
Heo May thả gió trên đồng
Lúa mùa đến cử đòng đòng trổ bông
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều treo giữa mênh mông trời chiều
Cánh chim chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu ngọt ngòn
Chiều tà nắng xế đầu non
Ai đem giấu nắng hoàng hôn cuối đèo
Gió mơn man, gió hanh hao
Thổi vào mái lá ngọt ngào tái tê…
 
2.
Tôi giờ xa xứ, xa quê
Nhớ quay quắt nhớ lời thề đinh ninh
Nhớ mông lung, nhớ vô hình
Thèm trông một cụm lục bình xa khơi
Nhớ nhiều tiếng hát “À ơi…”
Ngọt ngào, chân chất những lời thương yêu
Giữa đồng bóng Mẹ liêu xiêu
Áo nâu đã bạc vá nhiều đường may…
Hoa sen nở những ngón tay
Cánh hoa tim tím hương bay bồi hồi
Phù sa bên lở bên bồi
Quê hương thương lắm một thời đắm say…
Trên trời mây trắng vẫn bay
Dòng sông vẫn chảy, hàng cây vẫn còn
Lâu rồi lòng dạ héo hon
Người đi biệt xứ héo mòn tình quê…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
 Lê Kim Thượng

BỒNG BỘT 蓬勃 – Bài viết của Trúc Âm



Bồng bột, chữ Hán viết 蓬勃, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), từ này được hiểu theo hai nghĩa: nghĩa thứ nhất là sôi nổi, có khí thế mạnh mẽ; nghĩa thứ hai là sôi nổi, hăng hái nhưng thiếu chín chắn và không lâu bền, thường dùng để nói về tính cách hoặc tình cảm.
Đây vốn là một từ gốc Hán dùng để chỉ trạng thái hưng thịnh, phát triển mạnh mẽ và tràn đầy sức sống. Cụ thể:
Bồng  vốn trỏ một loại cỏ mọc nhanh và sum suê, sau phát triển thành nét nghĩa rậm rạp, tươi tốt, sinh trưởng mạnh.
Bột  có nghĩa là nổi lên, dâng lên, hưng khởi hoặc phát triển mạnh mẽ mà ta hay gặp trong các từ như bột phát, hưng bột,...
 

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

TRẢ NỢ - Thơ Lê Kim Thượng


   

Trả Nợ
 
1.
Người về trả nợ tháng năm
Trả quê nửa mảnh trăng rằm ngày xưa
Người về cuốc nắng, trồng mưa
Mồ hôi nhỏ xuống đường bừa rẽ đôi
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Có con én nhỏ xa xôi giữa trời
Chuồn chuồn đậu đọt mùng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi mịt mù…
Trưa hè man mác lời ru
Đong đưa cánh võng, vi vu gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành gió đưa…
Trâu về theo tiếng mõ khua
Xa xa vọng tiếng chuông chùa ngân nga
Hoàng hôn trăng đậu mái nhà
Ánh vàng gieo rắc như xa như gần…
 
2.
Người xa quê nhớ bâng khuâng
Xóm làng xưa cũ, người thân vẫn còn
Gái quê môi thắm vẫn son
Áo bà ba tím tươi giòn xốn xang
Mồ hôi đọng giọt nắng vàng
Sáng trên vần trán, mùa màng reo vui…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ trong tôi bồi hồi
Nắng buồn ôm núi mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời đau thương
Theo con Hạc trắng mù sương
Mẹ về với cõi vô thường xa đưa…
Ước gì đời lặng gió mưa
Trở về quê cũ rau dưa qua ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Rượu quê đầy cạn say say xao lòng…
         
Nha Trang, tháng 05. 2026
  KIM  THƯỢNG

THANH THUÝ: TIẾNG HÁT LƯỠNG TÍNH ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ - Long Phạm


Danh ca Thanh Thúy

Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, nữ trầm (contralto) là loại giọng cực kì hiếm gặp. Nó ít xuất hiện hơn rất nhiều so với nữ trung (mezzo soprano) và nữ cao (soprano).
 
Các giọng nữ có âm vực trầm và âm sắc hơi tối như Khánh Ly, Bảo Yến, Thu Phương, Hoàng Quyên, Ngọc Anh, Thanh Lam, Uyên Linh, Hồ Ngọc Hà... thường bị nhầm là nữ trầm. Nhưng thực chất, họ vẫn là nữ trung.
Ca sĩ Bảo Yến còn cho rằng: "Tôi chưa thấy một nữ trầm nào ở Việt Nam".
 
Theo định nghĩa trong nhạc cổ điển, giọng nữ trầm được tạo bởi contre (trầm) và alto (cao) - do trước đây alto là thiếu niên nam hoặc castrato. Đây là giọng nữ trầm nhất, hát chủ yếu bằng giọng ngực. Giọng dày, trầm, khoẻ.
 
Đặc điểm của một nữ trầm gồm:
- Màu giọng rất dày, có độ sâu, nặng và tối (hơn nữ trung).
- Hát với man tone và có tính lưỡng tính (hermaphrodite), tức là có thể hát như một giọng nam cao.
- Tessitura (quãng hát thoải mái) nằm trên âm khu trầm và trung trầm.

Trong đó, tính lưỡng tính là tiêu chuẩn lớn cho một nữ trầm.
Xét theo các điều kiện trên, Thanh Thúy là nữ ca sĩ duy nhất ở Việt Nam từ trước đến nay sở hữu giọng nữ trầm.
Không giống với tất cả các nữ ca sĩ khác, âm vực của Thanh Thúy mở rộng xuống rất thấp. Cô có thể hát thoải mái, nhả chữ ở C3, C#3 và xuống tận A2, B2, ngang với âm vực của một giọng nam.

CÕI TRỌ, GIÓ THÁNG 5, KHÚC MƯA KHUYA, CÂU CHUYỆN ĐÁM MÂY – Thơ Tịnh Bình


 


CÕI TRỌ
 
Phía trước là tiếng chim
Xôn xao miền nắng lạ
Cuối trời mây trắng lóa
Ở trọ chốn không nhà
 
Trôi về đâu nước cuốn
Nhánh rong rêu bọt bèo
Ơ kìa mùa thu nhỏ
Gọi ngàn lá về theo
 
Căn nhà xưa hiu quạnh
Vắng dáng quen thường ngồi
Run run mùa gió trở
Hao gầy vành trăng côi
 
Người đi trong tịch lặng
Ngày như sương mơ hồ
Thả vào trong mưa muộn
Phím đàn lời hư vô...