CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

TÌNH NGHĨA GIÁO KHOA THƯ – Nhà văn Sơn Nam


Nhà văn Sơn Nam

- Từ đây tới nhà ông Trần Văn Có gần hay xa vậy thầy?
Thầy xã trưởng đáp:
- Ở xóm Cà Bây Ngọp lận! Ðể tôi ra lịnh cho phó hương ấp đòi tên đó tới công sở...
Thầy phái viên nhà báo “Chim Trời” giựt mình.
- Tôi là phái viên, đâu có quyền hạn đó đối với quý độc giả thân mến gần xa.
Thầy xã hỏi:
- Phái viên là gì vậy thầy?
- Là người thay mặt cho tờ báo đi cổ động và thâu tiền.
- À! Bây giờ tôi mới biết cái thằng Tư Có. Nó thiếu tiền của nhà báo hả? Hèn chi nó bơi xuồng lên công sở lãnh báo, đúng bảy bữa là có mật nó. Nghèo không biết thân lại còn bày đặt làm sang mua báo không trả tiền!
 

VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1982–1985) (KỲ 2) – Bài viết của Hoàng Hưng


Ảnh: từ trái qua phải: Hoàng Hưng, Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên tại Bờ Hồ Hà Nội những năm 2000

Lần này vào Sài Gòn, tôi đã chọn một hành trình mới: từ Hà Nội xuống Hải Phòng để đáp tàu thuỷ vào (đường thuỷ ven biển Hải Phòng-Sài Gòn mới có được ít lâu). Người giúp tôi mua vé tàu là hoạ sĩ Thọ Vân, phụ trách Mỹ thuật của Hội Văn nghệ Hải Phòng, bạn thân nhất của tôi trong 8 năm tôi sống ở thành phố này. Anh là một người tự học, rất ham học. Tôi đã dịch cho anh cả loạt sách hội hoạ tiếng Pháp anh mua ở cửa hàng sách ngoại văn. Trước ngày tàu khởi hành ít bữa, tôi đã chở sẵn hàng hoá mới mua (trong đó có bộ Bách khoa toàn thư Larousse) xuống nhà anh để sẵn. Khi tôi bị bắt, công an xuống Hải Phòng thu giữ hết đồ đạc của tôi và không bao giờ trả lại, mặc dù sau khi ra tù, tôi đã có đơn đề nghị trả! Đơn không có hồi âm, như xử sự thường lệ của các cơ quan công quyền đối với công dân! Mãi sau này, tôi mới biết khi vụ án đã xong, đến thời hạn “thanh lý”, họ đã đem bán tất cả “tang vật vụ án”, kể cả “tang vật chủ yếu” là tập thơ VKB mà Hoàng Cầm chép tặng tôi, số tiền bán được không biết vào công quĩ hay túi riêng của ai?

THẮNG 勝 - Bài viết của Trúc Âm, Tri thư đạt lễ



“Sinh rằng: Giải cấu là duyên,
Xưa nay nhân định THẮNG thiên cũng nhiều.”
 
Tiếng Việt có Thắng, chữ Hán viết . Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng: Thắng là khả năng gánh vác, đảm đương, về sau mở rộng sang nghĩa vượt trội, chiến thắng và những gì nổi bật hơn hẳn.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, Thắng được dùng rất nhiều với nét nghĩa vượt lên, chiếm ưu thế, kết quả thành công như trong các từ chiến thắng, thắng lợi, thắng trận, thắng bại, quyết thắng, bách chiến bách thắng, nhân định thắng thiên,.. Đồng thời Thắng cũng mang nghĩa đẹp đẽ, tốt lành, thường gặp trong những nơi chốn có cảnh sắc đặc biệt như thắng cảnh, danh thắng, thắng địa,...
 
Thắng quyết định kết quả hơn thua giữa hai phía, mang sắc thái của kết quả bên ngoài, song trong tư tưởng phương Đông, chữ này còn ẩn chứa tinh thần tu dưỡng bên trong qua khả năng “tự thắng” - tức khả năng tự đối diện và chế ngự bản thân của con người. Thắng người đời vốn đã khó, nhưng để thắng được chính mình, chế ngự mọi xúc cảm tiêu cực, dục vọng và giới hạn nội tâm thì lại càng khó hơn.
 
Vì gửi gắm mong ước về chí tiến thủ, bản lĩnh vững vàng và khả năng chiến thắng chính mình trước khi chiến thắng người khác, cho nên đây là một cái tên đẹp trong văn hóa đặt tên của người Việt ta.
 
Thanh tao lịch sự đủ mùi,
Cao lâu rạp hát vui chơi đủ đầy.
Đâu đâu nam bắc đông tây,
Thăng Long thắng địa, xưa nay tiếng đồn.”
                                                    (Ca dao)
 
層樓閱歷幾星霜,
勝景幽淒已半荒。
齋灶煙消春草茂,
花階露冷谷風涼。
 
Tằng lâu duyệt lịch kỷ tinh sương,
Thắng cảnh u thê dĩ bán hoang.
Trai táo yên tiêu xuân thảo mậu,
Hoa giai lộ lãnh cốc phong lương.
 
Tầng lầu dầu dãi mấy tinh sương,
Thắng cảnh còn đây ngọn suối hoang!
Thềm gạch gió lùa, hơi lạnh lẽo,
Bếp chay cỏ mọc, dấu mơ màng.
(Ngô Thì Nhậm, bản dịch thơ Ngô Sĩ Lâm)
 
三年不吃酒吹煙,
人生無病是真仙。
喜見南方連大勝,
一年四季都春天。
 
Tam niên bất ngật tửu xuy yên,
Nhân sinh vô bệnh thị chân tiên.
Hỷ kiến Nam phương liên đại thắng,
Nhất niên tứ quý đô xuân thiên.
 
Thuốc kiêng, rượu cữ đã ba năm,
Không bệnh là tiên, sướng tuyệt trần,
Mừng thấy miền Nam luôn thắng lớn,
Một năm là cả bốn mùa xuân.
(Hồ Chí Minh, bản dịch thơ Khương Hữu Dụng)
 
Lòng soi mơ ước, trào dông bể
Dạ cháy mưu toan, ngút lửa thành

Thắng, bại, anh hùng, không cứ luận
Mỹ Lương một trận, tử mà sinh!
                                  (Vũ Đình Liên)
 
                                                                  Bài viết của Trúc Âm
                                                                Tri thư đạt lễ - 知書達禮

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

LỄ THẤT TỊCH: "ĐẬU TƯƠNG TƯ" VÀ ĐẬU ĐỎ - Bài viết của Khánh Ly


    Bài thơ Tương tư, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩHình ảnh: Bài thơ Tương tư, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Vào ngày lễ Thất Tịch, người ta thường nhớ đến Ngưu Lang - Chức Nữ, mối tình cách trở chỉ gặp nhau một lần mỗi năm. Trong văn hóa Trung Hoa, có một biểu tượng cũng gắn liền với nỗi nhớ thương ấy là hồng đậu 紅豆 - một loài đậu có hạt đỏ au, cứng như ngọc, từ lâu đã được xem là tín vật tình duyên, từng được thi nhân Vương Duy thời Đường khắc họa trong bài thơ "Tương tư" nổi tiếng:            

紅豆生南國,

春來發幾枝。

願君多採擷,

此物最相思。

Phiên âm:

Hồng đậu sinh Nam quốc,

Xuân lai phát kỷ chi.

Nguyện quân đa thái hiệt,

Thử vật tối tương ti (tư).

Dịch thơ:

Nước Nam sinh đậu đỏ

Xuân về nở cành xinh

Chàng ơi hái nhiều nhé

Nhớ nhau tha thiết tình.

(Bản dịch thơ Hải Đà)

Từ đây, hồng đậu được gọi là đậu tương tư, dần trở thành biểu tượng cho tình yêu và nỗi nhớ. Người xưa tin rằng hạt đậu đỏ cứng như ngọc, vỏ đỏ như trái tim, gửi gắm được tâm ý “tâm tâm tương ấn”, tức hai trái tim in dấu vào nhau. Cũng có truyền thuyết kể rằng vào thời Hán, có một chàng trai bị ép đi lính, người vợ của anh ngày ngày ngóng trông dưới gốc cây ở cổng làng, khóc đến nỗi ra máu mà qua đời. Sau khi người vợ mất, trên cây bỗng dưng kết thành những trái có màu đỏ rực, người ta cho rằng đây chính là những giọt huyết lệ của người vợ và gọi nó là "hồng đậu" hay "tương tư tử".

Ngày nay ở Việt Nam, truyền thông thường nhầm lẫn loại đậu này với đậu đỏ (Adzuki) dùng nấu chè. Thực ra, đậu tương tư (Adenanthera pavonina) hay còn gọi muồng cườm vốn là loại đậu hạt cứng, có độc tính mạnh, chỉ dùng làm trang sức như vòng tay cầu duyên, chúc bình an hoặc trừ tà,... chứ không ăn được. Ở Trung Quốc, từ xưa đến nay chỉ ghi nhận phong tục xâu hạt cầu duyên, tặng vòng hạt vào lễ Thất Tịch mà thôi. Tục ăn chè đậu đỏ vào lễ Thất Tịch ở Việt Nam là ảnh hưởng của truyền thông hiện đại, không liên quan gì đến tích thơ hay biểu tượng hồng đậu tương tư trong văn hóa cổ truyền.

Nhân ngày lễ Thất Tịch, chúc mọi người luôn bình an, khỏe mạnh, người thương ai thì gặp, kẻ nhớ ai thì gần, ai chưa có người thương sẽ gặp người đúng lúc:

"Chữ đồng lấy đấy làm ghi,

Mượn điều thất tịch mà thề bách niên."

                                                                     Bài viết của Khánh Ly

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO 冬蟲夏草 – Ung Chu, theo Hán-Việt Thông Dụng



"Đông trùng hạ thảo" 冬蟲夏草 là tên loại thảo dược có bản chất là nấm kí sinh trên sâu. Vào mùa đông, nấm này xâm nhập cơ thể sâu và làm sâu chết, lúc này nấm phát triển bên trong sâu nên ta vẫn thấy hình dạng sâu. Đến mùa hè, nấm bắt đầu phát triển khỏi xác sâu và vươn lên trên mặt đất, trông như một loại cỏ cây (thực vật).
- đông : mùa đông
- trùng : sâu bọ
- hạ : mùa hè, "hè" là âm Hán-Việt cổ xưa của nó (theo phiên thiết mang vần "myà → mè > ma" )
- thảo : cỏ, thảo mộc, chữ này mang bộ "thảo"  (cỏ cây) và kía âm bằng chữ "tảo" . Chữ "thảo"  nguyên bản là chữ tượng hình vẽ cỏ.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

NHÂN VẬT TRẦN HỮU LƯỢNG TRONG VIỆT SỬ VÀ MINH SỬ - Bài viết của Nhat Ngo



Trần Hữu Lượng theo Việt Sử là người gốc Việt (con Trần Ích Tắc), ông từng là Hoàng Đế một phần lớn lãnh thổ của Trung Quốc, tranh bá đồ vương với Chu Nguyên Chương nhà Minh, ông thua vì không gặp thời và mưu Lưu Cơ thôi, nếu không thì lịch sử Việt- Hán sẽ không như hiện nay.
 

THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG LÀ KHÔNG CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ- Theo Hạnh Nguyễn


Học giả Lê Mạnh Thát
 
…Trong khi phát hiện truyền thuyết trăm trứng nằm trong Lục Độ tập kinh, thiền sư – giáo sư Lê Mạnh Thát còn khám phá một sự thật lịch sử thú vị liên quan đến An Dương Vương và Triệu Đà.
 
Từ truyền thuyết trăm trứng nằm trong truyện 23 của Lục Độ tập kinh, ông đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và lại phát hiện truyền thuyết An Dương Vương giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana. Đối chiếu với tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, ông khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam thời Hùng Vương mà thôi.
 

NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm



Nhuận bút, chữ Hán viết 潤筆. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, khoa học được xuất bản hoặc được sử dụng. Nói cách khác, đây là cách gọi của “tiền tác quyền” trong đời sống hiện đại.
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận  là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút  là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.

人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,
Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.
Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,
Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)

Sẵn món tiền nhuận bút
Ông ra phố tức thì
Đi lùng mua bằng được
Bóng da, có véc ni.”
                       (Tú Mỡ)

Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt
Ngoảnh lại còn ta con nít đến già
Rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
Em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”
                                    (Nguyễn Duy)
 
                                                                        Bài viết của Trúc Âm
 
PHỤ CHÚ:

Chữ "Nhuận" ( / ) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
 giản thể của chữ 

“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi

- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói

- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).

- “Nhuận”  /  :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy ( - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà. / 
- Tràng/Trường  /  Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt ( - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.

- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.

CHIM TRỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Chim  Trời
 
1.
Đôi ta như cánh chim trời
Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…
Dừng chân đứng lại bên cầu
Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan
Yêu nhau yêu tới vô vàn
Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh
Yêu nhau cho cạn lời tình
Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê
Mắt nhìn đăm đắm si mê
Tôi và em giữa bốn bề tình yêu
Nụ hôn trong nắng liêu xiêu
Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm
Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”
Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên
Quên đi cơm áo, gạo tiền
Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…
 

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

"NGỰA XE NHƯ NƯỚC ÁO QUẦN NHƯ NEN" - Bài viết của Khánh Ly



“Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.”
                                   (Truyện Kiều)

Ngựa xe như nước, vốn lấy ý từ thành ngữ Xa thủy mã long, chữ Hán viết 車水馬龍, nghĩa là cảnh phồn hoa xe cộ nối nhau như dòng nước chảy, ngựa đi liên tiếp như rồng uốn lượn. Thành ngữ này xuất phát từ Hậu Hán thư, khi chép về Mã thái hậu thời Hán Chương Đế:

 Xa như lưu thủy, mã như du long 
    車如流水,馬如游龍",

Tạm dịch là: 

Xe như nước chảy, ngựa như rồng bơi.

Ở câu 47-48 Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

"Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nen."

"Như nước" thiên về chuyển động liên tục, còn "như nen" nhấn mạnh mật độ dày đặc, che kín không gian. Nhiều bản Kiều ngày nay chép "áo quần như nêm", trong đó bản khảo dị của Nguyễn Quảng Tuân giải thích: "nêm" đây là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng… Cả câu 48 ý nói ngựa xe qua lại liên tiếp như nước chảy, khách du xuân áo quần đẹp đẽ chen khít nhau như những mảnh nêm ở trên mặt thớt cối xay. Câu này đặt theo lối tiểu đối: "thủy" (danh từ) đối với "nêm" (danh từ).
Song cũng có học giả cho rằng chữ đúng trong nguyên tác là “nen”, ví như trong Truyện Kiều dẫn giải, Lê Văn Hòe giảng nen là một loài cỏ mọc ở ruộng nước, thân nhỏ, mọc thẳng và đặc kín thành từng đám lớn. Vùng đồng chiêm Ninh Bình, Thanh Hóa hễ có nước là có nen, từng cây ken sát nhau đến mức nhìn xa như phủ kín cả mặt ruộng. Vì vậy "áo quần như nen" là người mặc áo quần chen vai sát cánh, đông đặc như bụi cỏ nen ngoài đồng.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

ĂN THỊT, UỐNG MÁU CHÚA JESUS !?! – Bài viết của La Thuỵ




Nhiều bạn lương dân ngoại giáo trong vài dịp dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật trong giáo đường Thiên Chúa giáo, khi nghe Linh Mục đọc 
“Này là Mình Ta hãy cầm lấy mà ăn. Này là Máu Ta hãy nhận lấy mà uống. Vì Giao Ước này đổ ra cho muôn người. Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ta”.
Họ ngạc nhiên và trao đổi với nhau, thậm chí viết trên Face: “Tín hữu Công giáo ăn thịt uống máu Chúa, dễ sợ quá!”
 
Chúa Jesus thường được tuyên xưng là “mục tử nhân lành” (là người chăn chiên hết lòng yêu thương, am hiểu, bảo vệ và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho đoàn chiên của mình, trái ngược hoàn toàn với kẻ chăn thuê chỉ vì lợi ích cá nhân mà bỏ chạy khi gặp thú dữ)

Nhưng ít lương dân ngoại giáo biết rằng rằng Chúa Jesus còn có danh hiệu “Chiên Thiên Chúa”.
Chúa Jesus chịu làm của lễ hiến tế giống như con cừu non trong Lễ Vượt Qua để cứu chuộc nhân loại.

SANG THU, ĐÔI MẮT, NGÀY XƯA – Thơ Tịnh Bình


  

 
SANG THU
 
Nghe mưa gội lá xanh chồi
Tường vôi bông giấy bồi hồi tuổi thơ
Thương con chuồn ớt thờ ơ
Ham chơi để ướt giấc mơ bờ rào
 
Thị vàng hong nắng cành cao
Tiếng chim tươi rói tranh nhau quả mềm
Trời xanh, xanh đến dịu êm
Mùa thu ngày ấy giờ tìm chốn nao ?
 
Tên mình ai gọi lao xao
Ngân nga chuông gió cồn cào âm xưa
Sang thu hỏi cúc vàng chưa ?
Trong mơ hoa mướp cũng vừa đi xa...