CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Tư, 10 tháng 6, 2026

TRẢ NỢ - Thơ Lê Kim Thượng


   

Trả Nợ
 
1.
Người về trả nợ tháng năm
Trả quê nửa mảnh trăng rằm ngày xưa
Người về cuốc nắng, trồng mưa
Mồ hôi nhỏ xuống đường bừa rẽ đôi
Bồng bềnh lãng đãng mây trôi
Có con én nhỏ xa xôi giữa trời
Chuồn chuồn đậu đọt mùng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi mịt mù…
Trưa hè man mác lời ru
Đong đưa cánh võng, vi vu gió lành
Nước sông in bóng trời xanh
Chênh vênh bóng núi, chòng chành gió đưa…
Trâu về theo tiếng mõ khua
Xa xa vọng tiếng chuông chùa ngân nga
Hoàng hôn trăng đậu mái nhà
Ánh vàng gieo rắc như xa như gần…
 
2.
Người xa quê nhớ bâng khuâng
Xóm làng xưa cũ, người thân vẫn còn
Gái quê môi thắm vẫn son
Áo bà ba tím tươi giòn xốn xang
Mồ hôi đọng giọt nắng vàng
Sáng trên vần trán, mùa màng reo vui…
Nhớ hoài nỗi nhớ khôn nguôi
Nhớ hình bóng Mẹ trong tôi bồi hồi
Nắng buồn ôm núi mồ côi
Nén nhang con thắp, nghẹn lời đau thương
Theo con Hạc trắng mù sương
Mẹ về với cõi vô thường xa đưa…
Ước gì đời lặng gió mưa
Trở về quê cũ rau dưa qua ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Rượu quê đầy cạn say say xao lòng…
         
Nha Trang, tháng 05. 2026
  KIM  THƯỢNG

THANH THUÝ: TIẾNG HÁT LƯỠNG TÍNH ĐỘC NHẤT VÔ NHỊ - Long Phạm


Danh ca Thanh Thúy

Ở châu Á nói chung và Việt Nam nói riêng, nữ trầm (contralto) là loại giọng cực kì hiếm gặp. Nó ít xuất hiện hơn rất nhiều so với nữ trung (mezzo soprano) và nữ cao (soprano).
 
Các giọng nữ có âm vực trầm và âm sắc hơi tối như Khánh Ly, Bảo Yến, Thu Phương, Hoàng Quyên, Ngọc Anh, Thanh Lam, Uyên Linh, Hồ Ngọc Hà... thường bị nhầm là nữ trầm. Nhưng thực chất, họ vẫn là nữ trung.
Ca sĩ Bảo Yến còn cho rằng: "Tôi chưa thấy một nữ trầm nào ở Việt Nam".
 
Theo định nghĩa trong nhạc cổ điển, giọng nữ trầm được tạo bởi contre (trầm) và alto (cao) - do trước đây alto là thiếu niên nam hoặc castrato. Đây là giọng nữ trầm nhất, hát chủ yếu bằng giọng ngực. Giọng dày, trầm, khoẻ.
 
Đặc điểm của một nữ trầm gồm:
- Màu giọng rất dày, có độ sâu, nặng và tối (hơn nữ trung).
- Hát với man tone và có tính lưỡng tính (hermaphrodite), tức là có thể hát như một giọng nam cao.
- Tessitura (quãng hát thoải mái) nằm trên âm khu trầm và trung trầm.

Trong đó, tính lưỡng tính là tiêu chuẩn lớn cho một nữ trầm.
Xét theo các điều kiện trên, Thanh Thúy là nữ ca sĩ duy nhất ở Việt Nam từ trước đến nay sở hữu giọng nữ trầm.
Không giống với tất cả các nữ ca sĩ khác, âm vực của Thanh Thúy mở rộng xuống rất thấp. Cô có thể hát thoải mái, nhả chữ ở C3, C#3 và xuống tận A2, B2, ngang với âm vực của một giọng nam.

CÕI TRỌ, GIÓ THÁNG 5, KHÚC MƯA KHUYA, CÂU CHUYỆN ĐÁM MÂY – Thơ Tịnh Bình


 


CÕI TRỌ
 
Phía trước là tiếng chim
Xôn xao miền nắng lạ
Cuối trời mây trắng lóa
Ở trọ chốn không nhà
 
Trôi về đâu nước cuốn
Nhánh rong rêu bọt bèo
Ơ kìa mùa thu nhỏ
Gọi ngàn lá về theo
 
Căn nhà xưa hiu quạnh
Vắng dáng quen thường ngồi
Run run mùa gió trở
Hao gầy vành trăng côi
 
Người đi trong tịch lặng
Ngày như sương mơ hồ
Thả vào trong mưa muộn
Phím đàn lời hư vô...
 

SAO XÓT XA NHƯ RỤNG BÀN TAY - Đặng Nguyên Triết


Nhà thơ Hoàng Cầm

Trong một nhóm bán sách cũ, có người đang rao bán tờ Sơ yếu lý lịch của thi sĩ Hoàng Cầm viết năm 1992, lúc ông vừa tròn 70 tuổi.
Ông không ghi tên khai sinh Bùi Tằng Việt, mà vẫn ghi Bùi Hoàng Cầm.
Đọc tới dòng ông khai “Từ 1958: Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, mình lặng người một lúc lâu.

Năm 1948, ông viết Bên kia sông Đuống, có hai câu:
 
“Đứng bên này sông sao nhớ tiếc,
Sao xót xa như rụng bàn tay”
 
thì gần nửa thế kỷ sau khi nghĩ về đời mình “Bị thi hành kỷ luật, dài suốt 30 năm”, ông có xót xa như rụng cả đôi bàn tay?



Trả lời phỏng vấn của nhà phê bình văn học Thụy Khuê, ông nói:

“Không hiểu lý do làm sao, nhưng đưa đến nhà xuất bản nào hay tòa báo nào cho nó đăng thì đều bị từ chối. Rồi lặng lẽ mình cũng tự biết là có lẽ khó khăn lắm, thì mình cứ sáng tác để đấy thôi, cho vào ngăn kéo rồi một vài anh em đọc với nhau, chứ không truyền bá đi đâu cả. Xong rồi dần dần thời gian cứ thế kéo đi, nó kéo thế nào mà cho đến năm 88.”
 

LUÂN HỒI – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Luân  Hồi
 
1.
Yêu nhau từ thuở còn thơ
Nào ai biết được… ai ngờ mai sau…
Ru em ngày đã đổi màu
Lời ru có những “… trái sầu rụng rơi…”
Cà phê giọt đắng đọng rơi
Giọt buồn đen thẫm cạn lời thủy chung
Yêu thương dẫu có vô cùng
Nào ai biết được… ngàn trùng nhớ mong
Trái tim rạn vỡ trong lòng
Tình xa, tình lỡ… xoay vòng buồn thiu
Thương nhau ngày ấy thật nhiều
Không duyên, không nợ hắt hiu tình buồn
Thôi đành “…cắt dứt dây chuông…”
Ai thương, ai nhớ, ai buồn, ai say
Cuộc tình mòn mỏi hao gầy
Áo hồng chưa mặc thì nay mất rồi…
 
2.
Dù cho ước hẹn thề bồi
Nợ duyên không có, yêu rồi vẫn xa
Tình đầu đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, cố xa càng gần
Lời tình thề hẹn bao lần
Lời tình trôi giữa Sông Ngân mất rồi
Bao năm trông ngóng phương trời
Quầng thâm đôi mắt… nhớ người mai sau
Những chiều trời đổ mưa mau
Nhìn mưa lặng nhớ một câu thơ buồn
Làm sao trời hết mưa tuôn
Để cho nước mắt… ngược nguồn về tim
Bóng em biền biệt khuất chìm
Đã đi… đi mất biết tìm về đâu
Nợ em một Khối Tình Sầu
Tìm em tôi trả…kiếp sau Luân Hồi…
 
 Nha Trang, tháng 06. 2026
   KIM  THƯỢNG

Thứ Hai, 11 tháng 5, 2026

ÔNG NGUYỄN PHI KHANH YÊN NGHỈ TRÊN ĐỈNH NÚI BÁO ĐỨC (CHÍ LINH) - Theo trang Giai Thoại Xưa



Mất ở Trung Quốc, vì sao thân phụ Nguyễn Trãi lại yên nghỉ trên đỉnh núi Báo Đức?
Có một ngôi mộ nằm lặng lẽ trên đỉnh núi cao ở Chí Linh, muốn lên được đến nơi, có người phải đi từ sáng đến quá trưa mới trở xuống. Con đường ấy vòng vèo qua rừng, có đoạn dốc dựng, có đoạn cây cối che kín lối đi. Thế nhưng suốt nhiều đời qua, hậu duệ dòng họ Nguyễn Quy và những người yêu lịch sử vẫn tìm về nơi ấy để thắp hương cho một bậc đại nho đặc biệt: cụ Nguyễn Phi Khanh, thân phụ của Anh hùng dân tộc, Danh nhân văn hóa thế giới Nguyễn Trãi.
 

TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU, RU KHÚC VE TRƯA, NGOẢNH NHÌN HẠ CŨ – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRƯỚC BIỂN HỎI NGHÌN CÂU...
 
Phía biển xa kia là gì ?
Sao cánh buồm xuôi mãi
Chân trời màu đỏ thẫm
Vời vợi mắt hoàng hôn
 
Có hay không niềm bình yên vĩnh cửu
Cánh thiên di lưu trú tận đường trời
Tiếng gọi nào hư thực
Một lần dắt ta đi...
 
Lay đơn độc mùi khói hương không tuổi
Quay mặt lại là bờ bến cũ
Những bông hoa dệt nghìn tia ánh sáng
Cố hương xưa muôn ức tinh cầu
 
Ta tìm bản thể ta
Chưa khôn khuây nỗi nhớ
Trước biển hỏi nghìn câu thinh lặng
Chỉ sóng bạc đầu mãi một ngôn âm...
 

GẶP GỠ TIẾNG MƯỜNG VÀ TIẾNG VIỆT "ĐÀNG TRONG"... - Nguyễn Chương Mt


Trong khung vuông là địa bàn cư trú của người Mường.

/1/ Nhóm của họ, là người Mường ở Thanh Hóa, vô trong Nam sống và làm việc. Một người trong họ thốt lên với vẻ ngạc nhiên, "Ồ, người trong này gọi "mần", sao giống với tiếng Mường vậy!".
Tiếng Việt ngoài châu thổ sông Hồng gọi "làm", người Mường có cách gọi tương tự "là" (nghĩa là "làm"). Và người Mường còn có cách gọi khác nữa là "MẦN". Ở châu thổ sông Hồng người ngoài đó không gọi "mần", nhưng ở miền duyên hải như xứ Nẫu, miền châu thổ Đồng Nai - Cửu Long nhiều người Việt gọi "MẦN"!
Tiếng Mường gọi "MỀN", tiếng Việt châu thổ sông Hồng gọi "chăn". Đâu ngờ, tiếng Việt trong này lại gọi là "MỀN".
Người Việt trong Nam gọi "ƯA", người Mường cũng gọi "ƯA", trong khi tiếng Việt châu thổ sông Hồng không gọi vậy mà thường gọi là "Thích".
Tiếng Mường gọi "Bợi cơm", tiếng Việt trong Nam gọi "BỚI cơm", trong khi ngoài sông Hồng gọi "xới cơm".
... Chỉ đơn cử một chút "phát hiện" như vậy, nằm trong hành trình khám phá ngược dòng về ngôn ngữ - gọi là "VIETIC", trong đó có "proto-Vietic" (tiếng Việt nguyên thủy), "ngữ chi Việt - Mường".
=> Duyên cớ nào - trong lịch sử - đã nối liền thành "VỆT" tiếng Việt ở miền châu thổ Cửu Long với duyên hải xứ Nẩu, xứ Quảng, với tiếng Mường (nằm trong "proto-Vietic") ở Thanh Hóa...?

ĐỘNG PHÒNG HOA CHÚC 洞房花燭 - Bài viết của Khánh Ly, Tri thư đạt lễ

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động  này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động  này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the

Hình ảnh: Động phòng hoa chúc, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Động phòng hoa chúc 洞房花燭 là một thành ngữ gốc Hán, miêu tả quang cảnh của đám cưới truyền thống, nay chỉ đêm tân hôn. Thành ngữ này xuất hiện nhiều trong văn chương cổ.

Động phòng hoa chúc xuất phát từ bài thơ Hòa Vịnh Vũ của Dữu Tín thời Nam Bắc Triều. Trong đó có câu “Động phòng hoa chúc minh, yến dư song vũ khinh”, tạm dịch là: Phòng sâu nến hoa sáng, đôi én lượn nhẹ nhàng.

Động phòng 洞房 có nghĩa là căn phòng trong hang động. Theo vài tài liệu, nó liên quan đến tập tục sinh sống và nghi thức hôn lễ của một số dân tộc thời Tiên Tần. Chữ động  này nghĩa là cái động giống như ta thường gặp trong từ hang động, nham động, sơn động,... Khi ghép với phòng, nó ám chỉ một căn phòng kín đáo như trong hang sâu. Bởi vì hiện tượng đồng âm nên nhiều người sẽ nhầm với chữ động  này. Đây là một động từ có nghĩa cử động, chuyển động,... Vì vậy nếu không xét rõ nghĩa của từ, có thể nhầm lẫn “động phòng” sang nghĩa dung tục là hoạt động hoan ái phòng the.

Hoa chúc 花燭 có nghĩa là nến hoa. Đây là tập tục truyền thống không thể thiếu trong nghi lễ cưới xin của người Hán. Thông thường, người xưa sẽ thắp một đôi nến lớn ở đại sảnh và phòng tân hôn. Vì trên thân nến có chạm khắc hoa văn rồng phượng bằng vàng bạc nên gọi là hoa chúc. 

"TRU DI TAM TỘC” LÀ GỒM NHỮNG TỘC NÀO? - Bài viết của Phạm Nhật Gia Hân, trích từ trang Tiếng Việt giàu đẹp

         
               

Kính chào tất cả quý độc giả, chắc hẳn rằng mọi người đều đã được nghe đến cụm từ “Tru di tam tộc”, vậy hôm nay các bạn đọc hãy cùng Tiếng Việt giàu đẹp tìm hiểu xem “Tru di tam tộc” là gồm những tộc nào nhé!
 
Vậy “Tru di tam tộc” là gì?

 Từ “tru” (tiếng Hán: , đọc là Zhū) và từ “di” (tiếng Hán: , đọc là yí) trong "Tru di tam tộc” mang nghĩa là giết sạch.
Theo tác giả An Chi “Tru di tam tộc” có ít nhất là bốn cách hiểu mà Từ nguyên (một bộ từ điển tiếng Hán ra mắt năm 1915) đã cho như sau:
 1. Cha mẹ, anh em, vợ con là tam tộc (Phụ mẫu, huynh đệ, thê tử vi tam tộc).
 2. Họ cha, họ mẹ, họ vợ là tam tộc (Phụ tộc, mẫu tộc, thế tộc vi tam tộc).
 3. Cha, con, cháu ( tức con của con) là tam tộc (Phụ, tử, tôn vi tam tộc).
 4. Anh em của cha, anh em của mình, anh em của con là tam tộc (Phụ côn đệ, kỷ côn đệ, tử côn đệ vi tam tộc).
 
Vậy “Tru di tam tộc” là gồm những tộc nào?

Ở thời kỳ quân chủ chuyên chế tập quyền cao độ, tiêu biểu như vụ tru di tam tộc của Nguyễn Trãi thời vua Lê Thái Tông.
Vì có nhiều cách hiểu như trên nên vụ án Nguyễn Trãi cách đây 555 năm (1442) cũng được người thời nay hiểu khác nhau. Cao Huy Giu dịch “Đại Việt sử ký toàn thư” đã viết như sau: “(Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), giết hành khiển Nguyễn Trãi và vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến ba đời” (tập III, Hà Nội, 1972, tr. 131). Ba đời đương nhiên chỉ có thể là đời cha, đời con và đời cháu (ứng với nghĩa 3 của Từ nguyên) mà thôi. Nhưng Phan Huy Lê thì lại viết: “Nguyễn Trãi bị ghen ghét gièm pha, có lần bị hạ ngục và cuối cùng bị tru di ba họ”. Ba họ, theo cách hiểu thông thường là họ cha, họ mẹ và họ vợ đương nhiên phải nhiều và nặng hơn ba đời vì ba đời chỉ thuộc có một họ.
 
Từ đây chúng ta có thể thấy được ở Việt Nam thời xưa có rất ít tộc bị “Tru di tam tộc” nhưng đây cũng là một trong những hình phạt tàn khốc nhất trong thời kỳ quân chủ chuyên chế tập quyền cao độ thời xưa ở đất nước ta.
 
                                                               Phạm Nhật Gia Hân
                                                     Trích từ trang Tiếng Việt giàu đẹp

LẮNG LÒNG – Thơ Lê Kim Thượng


  

 
Lắng Lòng

1.
Lắng lòng rót mật vào thơ
Tình yêu tuổi nhỏ dại khờ mới nhen
Lần đầu gặp gỡ làm quen
Bỗng nghe “Tiếng sét…” gọi tên “Ái tình…”
Nắng rơi tia nắng lung linh
Gió bay tà áo dáng hình đắm say
Xin Trời sợi chỉ buộc tay
Tơ hồng kết nối ngày ngày yêu thương
Giọt sương trên lá còn vương
Gió lay khẽ rụng trên đường ướt vai
Tóc dài buông xõa chia hai
Bóng em trong nắng đổ dài tinh khôi…
Em ơi… chiều đã muộn rồi
Hoàng hôn tím cả một trời mênh mang
Lối về tím rụng hoa xoan
Tím màu chung thủy tím man mác buồn…
 
2.
Bây giờ dâu bể dị thường
Cách xa, xa cách bốn phương trời sầu
Vui thời cạn, buồn thời sâu
Nhớ em nỗi nhớ đậm màu thiết tha…
Người ta đi với người ta
Rượu nồng, pháo cưới, xe hoa, áo hồng
Chát chua, chua chát trong lòng
Tình chia hai ngả còn trông đứng ngồi
Nhìn nhau lần cuối rồi thôi
Giang đầu, giang vĩ xa xôi vô thường
Quay lưng chia biệt người thương
Bây giờ hai đứa ngược đường hiu hanh…
Xa nhau từ thưở tóc xanh
Bây giờ gặp lại tóc thành ánh kim
Tình xưa tưởng đã khuất chìm
Mà yêu thương cũ trong tim vẫn đầy…
 
            Nha Trang, tháng  05. 2026
                 LÊ KIM THƯỢNG

MẸ 媄 (CHỮ NÔM) - Bài viết của Khánh Ly, Theo Tri thư đạt lễ

MẸ, chữ Nôm được ghi là Cấu tạo của chữ gồm có hai phần: Bên trái là bộ nữ  và bên phải là chữ mỹ .

MẸ  là một chữ Nôm thuộc nhóm chữ Nôm sáng tạo của người Việt, thông qua việc kết hợp giữa thành tố biểu âm và biểu ý. Nghĩa là trong chữ mẹ nữ  là bộ thủ biểu ý chỉ chung cho người nữ, còn mỹ  là thành tố biểu âm, cho âm đọc Nôm là mẹ.
Theo nguyên tắc chỉnh vần của chữ Nôm mà thực tế là chỉnh nguyên âm, ta có nguyên tắc: Nguyên âm dòng nào thì chỉnh theo nguyên âm dòng ấy. Chữ mẹ  được chỉnh theo nguyên tắc nguyên âm dòng trước là i, iê (ia), ê, e. Cụ thể ở đây là chỉnh từ i → e, từ mỹ → mẹ.
 
Hình ảnh: Chữ Mẹ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

“Con dù lớn vẫn là con của mẹ,
Đi hết đời lòng mẹ vẫn theo con.”
(Con cò - Chế Lan Viên)

Lúc chưa biết gì về thế giới, người đầu tiên ta gọi là mẹ. Đến lúc tưởng như đã hiểu hết về đời, tiếng mẹ vẫn là lời còn đó, đôi khi cả đời người cũng chưa thể học xong.
Tiếng “mẹ” bật ra từ môi như một phản xạ, là tiếng gọi phổ thông nhất nằm giữa rất nhiều những tiếng gọi khác trong tiếng Việt như má, u, bu, bầm, mệ, mế, mụ, mạ… Nhóm phụ âm môi (b-ph-v-m) là thứ âm thanh trẻ con dễ bắt chước nhất khi học nói. Vì vậy những từ để gọi người thân như mẹ, bà, ba, bố... đều khởi đầu bằng những âm này.
 

Thứ Năm, 30 tháng 4, 2026

CẢNH KHÔI HÀI CỦA VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện, Lê Tiên Long

 

MŨ VUA... XOAY NGANG - Lê Tiên Long

Hôm qua, Ninh Bình tổ chức Lễ hội Hoa Lư 2026, truyền hình trực tiếp trên cả VTV1, trong đó có hoạt cảnh sân khấu hoá cảnh Đại Thắng vương (Đinh Bộ Lĩnh) lên ngôi, đặt quốc hiệu Đại Cồ Việt.
Nhưng nhiều người thắc mắc, sao nhà vua đội mũ miện mà mũ lại... xoay ngang. Vì cái mũ miện (còn gọi là mũ bình thiên, vì bên đỉnh mũ trên có cái tấm chữ nhật phẳng, để theo phương ngang nên gọi là "bình thiên", tức trên đầu bằng phẳng) của vua theo quy định sẽ có 12 dải tua kết bằng châu, ngọc ở trước mặt và sau gáy.
Cái dải châu ngọc này để làm gì? Nó như một thứ "rèm" để che mặt vua, khiến bề tôi không được trực tiếp nhìn thẳng "long nhan". Nó cũng khiến ánh mắt của bậc đế vương không nhìn mọi vật quá rõ, quá trực diện, nhằm nhắc nhở người đứng đầu thiên hạ phải giữ thái độ điềm tĩnh, không thiên lệch, không bị chi phối bởi cảm xúc nhất thời.
Quy chế về mũ miện rất chặt chẽ. Thiên tử có 12 dải tua, vua chư hầu, tước vương có 9 dải, tước công, hầu có 7 dải, tước bá, tử, nam có 5 dải.
Trong ảnh đen trắng bên dưới, các quan nhà Nguyễn ở nước ta trong buổi lễ tế Nam giao đội mũ Miện với 5 dải tua.
Chả hiểu sao đạo diễn sân khấu Lễ hội Hoa Lư lại cho vua Đinh Tiên Hoàng đội mũ... xoay ngang. Tức là để dải tua hai bên... che tai nhà vua.
Quả là khó hiểu.
Cũng có người bảo chỉ là sân khấu hoá ấy mà, vua mặc gì chả được, như đáng lẽ vua đội mũ Miện thì phải mặc áo Cổn, chứ đâu có mặc... áo khoác như trong ảnh. Rồi hoàng hậu vấn khăn, mặc áo kiểu Nhật Bình thời nhà Nguyễn, minh hoạ ấy mà, có hề chi!
Nhưng thời nào thì cũng chả có vua đội mũ Miện với dải tua hai bên tai cả.
Cho nên muốn đầu tư mấy chục nghìn tỷ đồng để chấn hưng văn hoá, mà thiếu kiến thức, trong đó có kiến thức lịch sử, thì cũng khó lắm thay!
                                                                               Lê Tiên Long

*
CẢNH KHÔI HÀI CỦA HAI VỊ VUA NƯỚC TA ĐƯỢC SÂN KHẤU HÓA - Nguyễn Xuân Diện
 
Nghe nói là hai vị vua nước ta đều được sân khấu hoá trên một sân khấu.


Vua trên thì mũ bình thiên phải quay ngang để nhìn cho rõ mặt. 


Vua dưới thì tự tay cầm tờ “Tế Thiên chiếu” - nhà vua xuống chiếu về việc tế trời, hay đây là bài chiếu tế trời. 

Văn tế là Văn tế, Chiếu là tờ chiếu lệnh vua phát ra. Sao lại vừa tế vừa chiếu vậy?
Vua là thiên tử tức là con trời. Sao lại có ông vua ra bài chiếu tế trời để đọc giữa trời vậy?
                                                                          Nguyễn Xuân Diện

ĐOÀN THƯỢNG, MỘT TƯỚNG LÃNH CÓ KHÍ PHÁCH CUỐI TRIỀU LÝ – Bài viết của Cảnh

 

Giữa lúc nhà Lý đã nghiêng ngả, có một người vẫn giữ đất, giữ quân và giữ lòng trung với triều cũ đến tận phút cuối. Người đó là Đoàn Thượng.
 
Trong giai đoạn cuối triều Lý, khi triều đình trung ương gần như mất khả năng kiểm soát, các thế lực địa phương nổi lên khắp nơi, lịch sử Đại Việt bước vào một thời đoạn vô cùng rối ren. Giữa bối cảnh ấy, Đoàn Thượng là một nhân vật rất đặc biệt. Trong chính sử, ông có thể bị nhìn như một hào trưởng cát cứ, một sứ quân làm đất nước thêm chia cắt. Nhưng trong ký ức dân gian, nhất là ở vùng Hồng Châu xưa, ông lại được nhớ đến như một con người có khí phách, có thực lực và có lòng trung nghĩa rất rõ rệt.
 

UYÊN ÁO 淵奧 - Ung Chu, HánViệt Thông Dụng



- uyên : vực sâu, chỗ nước sâu; sâu, như trong "uyên bác", "uyên thâm", chữ này mang bộ "thuỷ"  (nước)
- áo : chỗ sâu kín trong nhà; sâu xa, sâu kín.
"Uyên áo" 淵奧 dùng để tả thâm sâu, sâu xa, sâu kín: tính uyên áo của giáo lí, kiến thức uyên áo, ý nghĩa uyên áo...
 
                                                                               Ung Chu 
                                                                     Hán Việt Thông Dụng

CỨU CÁNH 究竟 - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮



“Cứu cánh”, theo Từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên, được giảng là: “mục đích cuối cùng.” Đây là cách hiểu quen thuộc trong tiếng Việt hiện đại, thường dùng để chỉ đích đến sau hết của một hành động hay một quá trình.
 
Cứu cánh, chữ Hán viết 究竟, vốn có nghĩa cơ bản là tận cùng, đến mức rốt ráo, từ đó phát triển thành các nghĩa như kết cục, chân tướng của sự việc hoặc dùng như phó từ với nghĩa rốt cục, xét cho cùng.
 
Trong đó:
Cứu  nghĩa là đi đến tận nơi theo sách Thuyết Văn Giải Tự. Chữ này về sau còn được dùng với nghĩa truy cứu, khảo sát, tìm cho ra lẽ như trong các từ tra cứu, khảo cứu, nghiên cứu,... Cánh  là kết thúc, chỗ dừng sau cùng.
 
Trong cổ văn, cứu cánh thường được dùng với nghĩa truy đến nơi đến chốn hoặc hiểu thấu tận cùng. Ví như trong Sử ký có câu: Phi bác văn cường ký quân tử giả sở bất năng cứu cánh kỳ ý 非博闻彊记君子者所不能究竟其意, tạm dịch là: Nếu không phải là bậc học rộng nhớ nhiều thì không thể hiểu thấu đến cùng ý ấy. Ngoài ra từ này cũng có nghĩa cảnh giới tối hậu, chí cực, cõi Phật như "cứu cánh Niết bàn" trong thuật ngữ Phật giáo.
 
Trong tiếng Việt hiện đại, từ này được ghi nhận với nghĩa "mục đích cuối cùng". Nghĩa này thực chất là một cách hiểu triển khai từ nghĩa gốc “đi đến tận cùng”, thiên về điểm kết thúc hay đích đến sau cùng của một quá trình.
 
Tuy nhiên do hiện tượng đồng âm, chữ "cứu" trong cứu cánh lại thường bị nhầm với chữ "cứu"  trong cứu giúp. Bởi lẽ đây là một từ xuất hiện với tần suất rất cao trong tiếng Việt như trong các từ cứu nạn, cứu trợ, cấp cứu, cứu hộ, cứu hỏa, cứu nguy,... nên không ít người vô thức gán nghĩa "cứu vớt" vào "cứu cánh".
 
三生倏忽真風燭,
九界循環是蟻磨。
或問如何為究竟,
摩訶般若薩婆訶。
 
Tam sinh thúc hốt chân phong chúc,
Cửu giới tuần hoàn thị nghĩ ma.
Hoặc vấn như hà vi cứu cánh,
Ma-ha bát nhã tát-bà-ha.
 
Ba sinh: gió thổi, đuốc loè tắt,
Chín cõi: cối vần, kiến nhẩn nha.
Muốn hỏi thế nào là cứu cánh,
Ma-ha bát nhã, tát-bà-ha!
(Tuệ Trung Thượng sĩ, bản dịch thơ Huệ Chi)
 
Xếp hàng ngang cùng lách
Hiện đại và thô sơ
Xếp hàng dọc mà len
Vượt lên là cứu cánh
Còi xe dồn lanh lảnh
Mồ hôi tháo đầm đìa
Có kế gì phù phép
Sang được đường bên kia!”
                       (Bằng Việt)
 
Xin em nỗi buồn, dừng lại
Anh đang cháy cạn đời mình
Van em, van em… cúi xuống
Nỗi buồn - cứu cánh - hồi sinh.”
               (Nguyễn Minh Dũng)
 
                                                                Bài viết của Khánh Ly
                                                         Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮