CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026

MÔ HÌNH ĐẠI HỌC THI TUYỂN VÀ ĐẠI HỌC GHI DANH Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975 – Nguyễn Thy Anh



Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ. Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.

LỪNG LẪY MỘT THỜI: NGUYỄN TẤT NHIÊN, THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH – Phạm Chu Sa


          Thi sĩ Nguyễn Tất Nhiên(thứ hai từ trái qua) và các bằng hữu tại tư gia ở Westminster, Hoa Kỳ

Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ "Thiên tai" xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.
Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài "Vì tôi là linh mục" tuyệt hay: 

“Vì tôi là linh mục/ Giảng lời tình nhân gian.../ Một tín đồ duy nhất/ Đã thiêu hủy lầu chuông…/ Vì tôi là linh mục/ Không biết rửa tội người/ Nên âm thầm lúc chết/ Tội mình còn thâm vai”
 
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.

BÀI THƠ “VIẾNG BẠN” ĐÃ TỪNG BỊ PHÊ PHÁN THẾ NÀO - Bảo Thư



“Viếng bạn” được được Hoàng Lộc viết năm 1947 và in trong tập bút ký “Chặt gọng kìm Đường số 4”. Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của một chiến sĩ tên tên là Th vào ngày 8-1-1948 trong trận Bố Củng. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên đồng đội đành phải đào một cái huyệt nhỏ để chôn Th. Nhìn thi thể đồng đội không có áo quan, ai cũng khóc.
 
Năm 1949, tạp chí Văn Nghệ đăng bài thơ này và gây sự xúc động mạnh trong giới văn nghệ sĩ kháng chiến. Cho đến nay "Viếng bạn" được xem là bài thơ hay nhất viết về tình đồng đội, về người liệt sĩ trong kháng chiến.
 
Tuy nhiên, bài thơ này đã từng bị “đánh” tơi bời trong phong trào “Chỉnh huấn – chỉnh quân” trong thập niên 1950. Tháng 12-1953, trên Nội san Giáo Dục số 12 xuất hiện diễn đàn: “Chúng ta cùng thảo luận”, chủ đề xoay quanh nội dung tư tưởng của bài thơ “Viếng bạn”. Khởi xướng mở diễn đàn thảo luận bài thơ Viếng bạn là Nguyên Chương, một cây bút lý luận phê bình kỳ cựu .
Với tựa đề “Nhân giảng bài Viếng bạn: Đả phá óc mê tín” đăng tạp chí Giáo Dục số 12 năm 1953, tác giả Nguyên Chương đưa ra 3 luận điểm phê bình bài “Viếng bạn”:
 
1) Bài thơ Viếng bạn cổ súy tư tưởng phong kiến, mê tín, dị đoan, duy tâm thần bí;
2) Nghệ thuật trong bài thơ Viếng bạn là sáo cũ, giả tạo;
3) Ảnh hưởng của bài thơ Viếng bạn đến học sinh là rất xấu.
 
Để chứng minh “Viếng bạn” là bài thơ “gọi hồn”, mê tín dị đoan, Nguyên Chương thực hiện một cuộc điều tra, khảo sát học sinh tại 3 lớp đã nghe giảng bài thơ Viếng bạn và đặt ra 3 câu hỏi trong cuộc điều tra này là:

- “ Khôn thiêng xin chỉ mặt là thế nào? Có phải linh hồn anh bộ đội chết đó còn sống và khôn thiêng phải không?”
- “ Ai tin rằng sau khi xác thịt chết thì linh hồn còn sống?”
- “ Thế thì em nào sợ ma, tin có ma cứ thành thật cho biết”   
Và tác giả dẫn kết quả điều tra như sau:
a) Ở câu hỏi thứ nhất có một số học sinh trả lời “Linh hồn anh bộ đội ấy khôn thiêng, linh hồn anh còn sống”;
b) Ở câu hỏi thứ hai có 28/ 125 em tin là sau khi chết thì linh hồn còn sống;
c) Ở câu hỏi thứ ba có 92/125 học sinh sợ ma.
 
Đến đây, tác giả bài viết đưa đến kết luận: con em Việt Nam còn mê tín nhiều và cần phải “làm công việc giải độc”. Và việc một tác phẩm như bài thơ Viếng bạn có hiện tượng người sống “đang nói với người chết; hỏi người chết có khôn thiêng thì chỉ mặt kẻ thù” là biểu hiện rõ ràng tư tưởng, tình cảm “phong kiến, duy tâm, thần bí” và “hoen ố màu sắc siêu hình”.
 
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả bài viết cũng phê phán Viếng bạn là bài thơ sáo rỗng, giả tạo. Nguyên Chương dẫn chứng rằng: “Gọi anh chẳng thành lời mà hàm răng dính chặt”. Răng dính chặt thế mà đoạn dưới và đoạn sau anh nói quá nhiều, anh nói rõ ràng lắm. Hình ảnh không thống nhất, ta có cảm tưởng là thơ giả tạo”.
 
Về hệ quả, tác giả cho rằng bài thơ có ảnh hưởng rất xấu đối với thanh thiếu niên: “con số 92/125 kể trên quả là một thương tâm bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong lời nói, trong câu văn. Nếu không đập tan mê tín thì ít nhất đừng gieo rắc mê tín”. Và tác giả cảm thấy “ân hận đã đem bài Viếng bạn giảng cho học sinh trong ngày thương binh- tử sĩ” vì việc giảng dạy bài thơ Viếng bạn không những không đạt được mục đích căm hờn kẻ địch, thương người chiến sĩ hi sinh mà chỉ gieo rắc tư tưởng mê tín dị đoan.
 
Cuối cùng, tác giả Nguyên Chương đề nghị không dạy bài thơ Viếng bạn cho học sinh vì bài thơ này “đánh thức phần yếu đuối, phản khoa học nép trong tâm não thanh niên”.
 
Thế đấy, một tác phẩm văn học xúc động như vậy nhưng dưới lăng kính u tối của một số người thì rất có thể đây là bài thơ “có vấn đề” chỉ bởi tác phẩm đó được viết theo cách thể hiện khác.
Tự nhiên tôi rón rén đi trên băng mỏng của đại dương chữ nghĩa
 
                                                                                            Bảo Thư

"CHỮ QUỐC NGỮ" ? - Nguyễn Chương Mt


Nhà nguyện, nằm trong khuôn viên Tòa Tổng giám mục TGP Sài Gòn. Đây vốn là ngôi nhà của Đức Thầy Cả (Cha Cả) Bá Đa Lộc, được di dời từ vùng Lăng Cha Cả về đây.
 
/1/ Bấy lâu nay chúng ta vẫn quen cách gọi "CHỮ QUỐC NGỮ" là chữ viết dùng để ghi tiếng Việt bằng hệ thống abc Latin.
Thực ra, thời còn dùng CHỮ NÔM thì thứ chữ này đã được gọi là "CHỮ QUỐC NGỮ" - chữ ghi lại quốc âm trong tiếng Việt, để minh định khác với chữ Hán là thứ chữ ghi tiếng của người ở lân bang phương Bắc!
/2/ Đơn cử, gần hơn, vào gần cuối thế kỷ 18 - năm 1774, Đức Thầy Cả Vê-rô (*) soạn sách giáo lý và in ra bằng CHỮ NÔM, mang tựa "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ" (     )
Cách gọi "CHỮ NÔM" hoàn toàn KHÔNG có trong âm Hán-Việt của chữ Hán. "Chữ Nôm" (𡦂 ) , ở đây, được gọi là "Chữ Quốc ngữ" (𡦂  ).

Chú ý:  Ồ, sao CHỮ NÔM vẫn có dòng chữ Hán       "Thánh Giáo Yếu Lý Quốc Ngữ"?
Trong chữ Hán, CHỈ có âm Hán-Việt, loại bỏ quốc âm của tiếng Việt chúng ta!
Còn CHỮ NÔM: gìn giữ hết thảy quốc âm của tiếng Việt + một số âm Hán-Việt (chữ Hán) được chọn lọc, đã đi vào từ vựng của người Việt.

(*) Hiện nay đã quen với danh xưng "Giám mục", nhưng vào thế kỷ 17, 18 gọi là "ĐỨC THẦY CẢ" (giữ lại cách gọi này để bảo đảm tính chân thực của ngôn ngữ vào từng thời kỳ lịch sử). "Vê-rô", là một cách phiên âm khác, cũng là "Phê-rô" - từ "Pedro".
Có cách CHUYỂN ÂM (không phải phiên âm như "Vê-rô", "Phê-rô") là "Bá Đa Lộc"! Đức Thầy Cả Vê-rô, tức là Đức Thầy Cả (còn gọi "Cha Cả") Bá Đa Lộc.

Cách gọi "Bá Đa Lộc", từ đâu?

Đức Thầy Cả (giám mục) này trước khi đến nước Nam, đã có thời gian dài sống ở Macao. Ở đó, nói tiếng Quảng Đông. Tên thánh của vị này là "Pedro", người Quảng Đông đọc thành /pe-to-lo/, ghi chữ Hán 伯多祿 (ba chữ Hán này, tiếng Quảng Đông đọc /pe-to-lo/).
Âm Hán-Việt của 伯多祿 là "Bá Đa Lộc"! Tên thánh của Đức Thầy Cả (giám mục) là "Bá Đa Lộc" = "Pedro" (Phê-rô).
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

NGỌT LÀNH – Thơ Lê Kim Thượng


  


Ngọt  Lành
 
1.
Quê hương đẹp mãi trong mơ
Tình quê gắn với tuổi thơ xa vời
Quê nhà đẹp mãi ngàn đời
Nhớ ngày xưa cũ rong chơi trên đồng…
Trời xanh, xanh thẳm mênh mông
Bức tranh Thủy Mặc dòng sông, con đò
Bờ sông đợi, bến nước chờ
Có người viễn xứ bên bờ nhớ xưa
Quê nhà mưa nắng hai mùa
Thảo thơm hạt gạo nắng mưa ngọt lành
Nhà nghèo vách đất, mái tranh
Nồi cơm chín tới, bát canh đậm đà
Cơm chiều mắm muối ngày qua
Bình yên, thanh đạm chan hòa vui tươi
Tri âm chén rượu, nụ cười
Xưa nay ai cũng quý người thủy chung…
 
2.
Cuộc đời có có, không không
Còn chăng chỉ một tấm lòng yêu quê
Bình thường mà lắm đam mê
Để người xa xứ sơn khê ưu phiền
Cuộc đời điên đảo, đảo điên
Về quê tìm lại một miền thảnh thơi
Mong gì tìm được một nơi
Xóa đi phiền muộn một đời chênh chông…
Con về nhà đã vắng không
Nhớ hình bóng Mẹ trong lòng xót đau
Mẹ đi mãi mãi về đâu
Lung linh nến cháy hai đầu áo quan
Bàn thờ lặng lẽ khói nhang
Lòng con quặn thắt bàng hoàng ngu ngơ
Nghẹn ngào nhớ Mẹ ngày thơ
Rưng rưng nước mắt bơ vơ cuối đời…
 
              Nha Trang, tháng  07. 2026
                     LÊ KIM THƯỢNG

MƯA Ở NGOÀI KIA, RU GIẤC CHIÊM BAO, CÓ NƠI NÀO HƠN QUÊ HƯƠNG - Thơ Tịnh Bình


   

 
MƯA Ở NGOÀI KIA...
 
Những bước chân gõ trên mái nhà
Tội nghiệp mưa đi lang thang hoài trên phố
Không ngừng hát mãi giai điệu cũ rích
Đêm mơ hồ suy tư
Chiếc bóng rơi trên vách khuya
Dỗ dành giấc mơ mắt ướt
 
Câu thơ lạnh vùi vào ngực nóng
Vịn vào đâu nỗi lấp lánh buồn
Bức tường câm vờ chẳng nghe lời nức nở
Tiếng dỗi hờn mưa gọi ở ngoài kia...
 
Những giấc mơ lạnh lùng có mặt
Ta như kẻ ngoài cuộc dửng dưng quan sát
Bối rối nhịp mưa
Chiếc bóng cười khan
Ngỡ thấy mình đâu đó
Lặng im tiếng vỗ một bàn tay...
 

Thứ Ba, 30 tháng 6, 2026

TRẦN HÚC, LƯỠNG QUỐC PHÒ MÃ - Bài viết của Tô Như

Trong gần 200 năm, nhà Trần liên tiếp nảy ra mấy người như Trần Di Ái, Trần Ích Tắc, Trần Thiêm Bình (mạo xưng là cháu Trần Thánh Tông) muốn mượn sức triều đình phương Bắc để về làm vua nước ta.
Ở cuối nhà Trần lại nảy ra một người đặc biệt hơn hết, muốn mượn sức Chiêm Thành để về làm vua ĐạiViệt. Đó là Ngự Câu Vương Trần Húc.
 
                  Tranh vẽ tình cảnh loạn lạc cuối thời Trần (Tranh có tính chất minh họa cho bài).              
                   Nguồn: Sưu tầm 
 
HOÀNG TỬ KIÊM PHÒ MÃ
 
Ngự Câu Vương Trần Húc là con của vua Trần Nghệ Tông. Nghệ Tông lên ngôi không lập con mà lại chọn em trai là Cung Tuyên Đại Vương Trần Kính làm Hoàng thái tử. Đến năm 1372 thì nhường cho Kính lên làm vua, tức Duệ Tông, còn bản thân mình làm Thái thượng hoàng.
Ngự Câu Vương Trần Húc là con yêu của Nghệ Tông, được phong là Quan phục Đại vương. Theo sử gia Ngô Sĩ Liên bàn thì tước vương nay có lẽ bởi được yêu nên tuy mới là bậc vương mà đã được ban cho áo mão của Đại vương.
 

GIAI ĐIỆU LÊ UYÊN PHƯƠNG: BÍ MẬT CỦA “NỖI BUỒN TRONG CUNG TRƯỞNG” - Bài viết của Ngu Yên



Phần lớn người yêu nhạc Lê Uyên Phương đến với ông qua cảm xúc: cái nồng nàn, cái khắc khoải, cái buồn da diết. Ít ai dừng lại để hỏi: bằng những thủ pháp âm nhạc nào mà ông tạo ra được hiệu ứng ấy? Nhưng chính khi đặt câu hỏi này, ta mới chạm tới một trong những bí mật thú vị nhất của hiện tượng Lê Uyên Phương, một bí mật mà ngay cả những nhạc sĩ bậc thầy đương thời cũng phải dừng lại suy sâu.
 

“CÒN ĐÂU CÁNH BƯỚM ?”, TƯỞNG NHỚ NGHỆ SĨ NGÂM THƠ HỒ ĐIỆP – Bái viết của Trịnh Anh Khôi



Nữ nghệ sĩ Hồ Điệp tên thật Nguyễn Thị Nhu (Có tài liệu ghi là Nguyễn Thị Tý) sinh năm 1930 tại Sơn Tây. Bà vào Nam năm 1954. Thi sĩ Đinh Hùng đã phát hiện ra tài năng ngâm thơ thiên phú của bà nên đặt cho nghệ danh Hồ Điệp.
Có thể giải thích cái tên được hàng triệu người yêu mến này: Hồ Điệp nghĩa là Cánh Bướm, ý rằng giọng ngâm của bà nhẹ nhàng, mỏng manh, nhưng lại nhiều mầu sắc như những cánh bướm.
 

CÁT BỤI – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Cát bụi
 
1.
Xa quê xứ lạ dung thân
Trong lòng vẫn mãi bâng khuâng trông chờ…
Quê nhà đẹp tựa bài thơ
Sông dài nối những bến bờ chiêm bao
Chiều buông vạt nắng hanh hao
Gió đùa sóng lúa dạt dào mông mênh
Cánh diều no gió thênh thênh
Trời xanh xanh thẳm bồng bềnh mây trôi
Gió lùa mây xuống góc trời
Ráng chiều sắc đỏ chơi vơi dạt dào
Nắng chiều rũ bóng xanh xao
Xô nghiêng chiều tím ngã vào hoàng hôn…
Những ngày chớp biển mưa nguồn
 
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng buồn ru con
Lời ru tha thiết héo hon
“Cái cò lặn lội… nỉ non…” chung tình…
 
2.
Một mình thì vẫn một mình
Cô đơn một bóng, một hình đơn côi…
Quê nhà xa cách phương trời
Chôn nhau, cát rốn là nơi thiếu thời
Gom từng chiếc lá vàng rơi
Đếm từng nỗi nhớ đầy vơi thắm đằm
Người đi, đi mãi biệt tăm
Quê nhà là tiếng gọi thầm mà đau
Chỉ là cát bụi mai sau
Cuối đời chỉ thấy một màu thê lương
Nhân sinh mộng ảo vô thường
Trầm luân một kiếp vấn vương làm gì…
Nhớ nhiều ngày ấy Mẹ đi
Rưng rưng nước mắt chia ly không lời
Khói nhang đưa tiễn một đời
Mẹ đi về phía xa vời Tây Phương…
 
Nha Trang, tháng 06. 2026
       KIM  THƯỢNG

HIỂU NGUYỆT 曉月 - Bài viết của Khánh Ly



Hiểu nguyệt, chữ Hán viết, nghĩa là vầng trăng lúc rạng đông.
Hiểu  là trời hửng sáng sau một đêm dài. Sách Thuyết văn giải tự giảng: Hiểu là sáng sủa. Chữ này còn phái sinh những nét nghĩa khác như biết rõ, hiểu rõ hoặc làm cho người khác hiểu mà thường gặp trong các từ am hiểu, hiểu ngộ, hiểu dụ,...
Nguyệt  là mặt trăng. Những từ quen thuộc trong tiếng Việt như nhật nguyệt, nguyệt quang, nguyệt sắc, nguyệt dạ, nguyệt thực, tuế nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Nguyệt này.

TRẦM KHÚC HẠ, GIÓ QUÊ, DƯỚI RẶNG HOÀNG HÔN – Thơ Tịnh Bình


   

 
TRẦM KHÚC HẠ
 
Không gì mới giấc mơ đời cũ kỹ
Mùa quen hơi tiếng ve hạ trưa mòn
Con mọt gỗ nhai hoài lời đay nghiến
Hạ oi nồng mưa giận dỗi trời không
 
Chiều sót lại vài mặt người hoang hoải
Gió về đâu và nắng về đâu
Chân trời cũ sao lối về đã khác
Trống vắng ơi không bắc nổi nhịp cầu
 
Mây ảo vọng trùng trùng muôn phương hướng
Tiếng chim xưa khắc khoải gọi ta về
Mưa thong thả giọt tẩy trần chiếu lệ
Cõi tạm nào phản chiếu bóng hình ta ?
 

Thứ Hai, 15 tháng 6, 2026

NHÀ LAN (LAN THẤT 蘭室) - Bài viết của Khánh Ly




“Nhà lan sum họp bạn mai,
Đã trong tần tảo, lại ngoài ty ca.”
                     (Bích Câu kỳ ngộ)

Nhà lan, tức Lan thất 蘭室, nghĩa là căn phòng thơm hương lan. Vì Lan vốn là loài hoa tượng trưng cho sự thanh cao và tao nhã, cho nên đây là một mỹ từ, dùng để chỉ nơi ở thanh nhã của phụ nữ trong văn chương cổ điển, tương tự với những cách gọi khác như Huệ lâu 蕙樓 (lầu huệ) hay Tiêu phòng 椒房 (phòng tiêu).

Chủ Nhật, 14 tháng 6, 2026

THIÊN TẢI NHẤT THÌ 千載一時 - Bài viết của Khánh Ly



“Nàng rằng: Thiên tải nhất thì,
Cố nhân đã dễ mấy khi bàn hoàn.”
                              (Truyện Kiều)
 
Thiên tải nhất thì, chữ Hán viết, là một thành ngữ dùng để chỉ những dịp hiếm hoi khó gặp. Trong tiếng Việt, thành ngữ này thường được diễn đạt bằng những thành ngữ quen thuộc như “ngàn năm một thuở”, “trăm năm khó gặp”, ngàn năm có một,... Tất cả đều mang nghĩa dịp may mong manh xuất hiện trong đời mà ta biết rằng sẽ khó lòng gặp lại lần hai.

VẤN ĐỀ ĐẤU TỐ VĂN NGHỆ SĨ - Bài viết của Linh Hoàng Vũ



Tháng Tám năm 1966, người ta lôi Lão Xá, nhà văn 67 tuổi nổi tiếng nhất Trung Quốc, cùng một nhóm nhà văn nghệ sĩ ra sân Khổng miếu ở Bắc Kinh, bắt họ quỳ quanh một đống lửa đốt đạo cụ tuồng cổ. Các tiểu tướng hồng vệ binh bằng tuổi cháu nội ông treo bảng đen lên cổ ông, rồi đánh và sỉ nhục ông giữa tiếng hô hào phần khởi của đám đông. Lão Xá là tác giả lớn của Trung Hoa hiện đại, người từng được kỳ vọng cho một giải Nobel. Đám đông hành hạ ông không phải vì họ cho rằng tác phẩm của ông dở hay thậm chí “phản động”, mà vì ông đã bị dán nhãn là tàn dư của cái cũ, là phần tử cần quét đi.  Sáng hôm sau, nhà văn lớn Trung Quốc ra hồ Thái Bình, ngồi lặng cả ngày bên mặt nước, rồi khi đêm xuống thì trầm mình.
Không ai trong đám đông hôm ấy nghĩ mình đang giết một nhà văn. Họ tin mình đang làm sạch đất nước. Đó mới là điều đáng sợ nhất của mọi cuộc đấu tố: nhiên liệu của nó không phải cái ác, mà là sự xác tín: cái cảm giác êm ái rằng mình chắc chắn đứng về phía đúng, và do đó được miễn mọi nghi ngờ về phương tiện.
Hơn nửa thế kỷ sau, ở Việt Nam, cùng cái xung năng ấy trở lại, nhưng đã thay hình, lần này là trên không gian mạng. Để buộc tội một cuốn sách và tác giả của nó, người ta không cần chứng minh nó sai. Chỉ cần làm cho nó có mùi rủi ro.

BA SAO GIỮA TRỜI - Bài viết của Khánh Ly



“Đêm thu, gió lọt song đào,
Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.”
                                           (Truyện Kiều)
 
Ba sao giữa trời, nguyên văn chữ Hán viết “tam tinh tại thiên 三星在天, xuất phát từ Kinh Thi, phần Đường phong 唐風, bài Trù mâu 綢繆 rằng: “Trù mâu thúc tân, tam tinh tại thiên 綢繆束薪,三星在天. Tạm dịch là: buộc chặt bó củi, ngẩng lên thấy ba ngôi sao giữa trời. Trong văn chương cổ, Tam tinh 三星 thường dùng để chỉ ba ngôi sao sáng nằm giữa bầu trời đêm, cũng là dấu hiệu cho biết đêm đã về khuya.

BẾ GIẢNG 閉講 - Bài viết của Khánh Ly


Hình ảnh: Bế giảng, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ   
 

Bế giảng, chữ Hán viết, theo từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê) là cách gọi lễ kết thúc một khóa học hoặc một năm học. Đây là một từ được sử dụng rất quen thuộc trong môi trường giáo dục Việt Nam, thường đi đôi với khai giảng 開講. Dẫu vậy điều khá thú vị là bế giảng lại không xuất hiện với tư cách một từ cố định phổ biến trong Hán văn cổ. Đây là một tổ hợp mang tính tạo nghĩa tương đối muộn, hình thành từ nghĩa sẵn có của hai chữ Bế  và Giảng .