CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 27 tháng 10, 2026

“JAMES DEAN HÙNG PHÓ TƯỚNG” CỦA “TRẦN ĐẠI” TRONG TIỂU THUYẾT “ĐIỆU RU NƯỚC MẮT” CỦA NHÀ VĂN DUYÊN ANH – Bài viết của Truc Dinh



Đọc trên Facebook của anh Tiến Chỉnh thấy tin anh Hùng, tức Hùng Bò, người được nhà văn Duyên Anh đưa vào trong tiểu thuyết “Điệu ru nước mắt” với tên James Dean Hùng vừa mới qua đời ở Sài Gòn. James Dean Hùng là một nhân vật đặc biệt trong giới du đãng Sài Gòn sinh năm 1944...! Đó là một tay du đãng có bằng Tú tài Tây (Baccalauréat Deux thường gọi tắt là Bac. deux), tức xuất thân con nhà giàu, có học, rồi bỏ nhà đi hoang gia nhập vào chốn giang hồ. James Dean Hùng là cánh tay mặt của Lê Văn Đại, tức Đại Cathay, trùm du đãng Sài Gòn thập niên 60-70 của thế kỷ trước ở Sài Gòn.

HUYỀN THOẠI PHẠM VĂN RẠNG: NGƯỜI GÁC ĐỀN VIỆT NAM TỪNG KHIẾN VUA BÓNG ĐÁ PELE BÓ TAY! - Theo iThethao TV



Trong lịch sử bóng đá Việt Nam, có những cái tên chỉ cần nhắc đến cũng đủ khiến bao thế hệ người hâm mộ bồi hồi, tự hào. Phạm Văn Rạng chính là một huyền thoại như thế! Ông không chỉ là một thủ môn xuất sắc của bóng đá Việt Nam mà còn từng khiến giới chuyên môn và truyền thông quốc tế phải dành sự ngưỡng mộ. Biệt danh “Lưỡng thủ vạn năng”, hay danh xưng “Đệ nhất thủ môn Á châu” cùng những câu chuyện được lưu truyền về tài năng của ông đã tạo nên một tượng đài đặc biệt trong ký ức bóng đá nước nhà.

DÒNG ĐỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Dòng Đời
1.
Đưa tay vuốt mái tóc em
Sợi thương, sợi nhớ nhẹ mềm trong anh
Tiếng em giọng nói thanh thanh
Dịu dàng hai tiếng “Em…Anh…” ngọt ngào
Giữ tình chẳng để hư hao
Sắt son thề hẹn trước sau một lòng
Tặng en chín chín đóa hồng
Tình yêu tha thiết tấm lòng tinh khôi
Gió đưa tà áo buông lơi
Trắng màu trinh nữ, mây trời bay bay
Thề bồi “Muối mặn… gừng cay…”
Đậm đà tha thiết đắm say tình nồng
Tình yêu, yêu thật một lòng
Vượt qua gian khổ chờ mong tháng ngày
Người yêu nửa tỉnh, nửa say
Nụ hôn đằm thắm, vòng tay ấm nồng…
 
2.
Còn gì nhớ nhớ mong mong
Cuộc tình rơi xuống giữa dòng đời trôi
Con tim thao thức bồi hồi
Sao nghe tê tái đơn côi một mình
Lỡ vay em một mối tình
Trăm năm chưa trả, riêng mình, riêng đau
Bao giờ cho hết mưa Ngâu
Ngưu Lang – Chức Nữ qua cầu thành đôi
Xưa rồi lâu lắm xa xôi
Một thời hạnh phúc, một thời yêu xa
Ngày em làm vợ người ta
Thơ tình gói lại làm quà trao tay…
Mừng vui gặp lại hôm nay
Vẹn nguyên kỷ niệm những ngày thương đau
Mười năm mới gặp nhau
Tóc xưa nay đã bạc màu thời gian…
 
                              Nha Trang, tháng  07. 2026
                                    LÊ KIM THƯỢNG

CUNG TIẾN VÀ BẢN NHẠC HOÀNG HẠC LÂU – Bài viết của Đỗ Viết Thanh



Cung Tiến là một nhạc sĩ tài hoa của âm nhạc miền Nam, một trí thức trầm lặng, một nhà phê bình  nghiên cứu và dịch thuật (ký tên Thạch Chương) khi cộng tác với nhóm Sáng Tạo. Cung Tiến không chỉ là một nhạc sĩ, ông là nhà trí thức nghệ thuật có mối quan tâm rộng lớn hơn âm nhạc.
Ông bắt đầu sáng tác nhạc lúc còn rất trẻ, năm 15 tuổi đã viết Thu Vàng và Hoài Cảm, tuyệt tác âm nhạc.

HUYỀN VŨ - NGƯỜI TƯỜNG THUẬT ĐÁ BANH HẤP DẪN QUA ĐÀI PHÁT THANH SÀI GÒN TRƯỚC 1975 – Văn Quang

Nhớ Huyền Vũ
Bài viết của nhà văn Văn Quang (1). Xin chia sẻ lại trong lời cảm ơn.                                                                                 
                                                                                  Trịnh Anh Khôi


Đã từ lâu, tôi (Văn Quang - TAK chú thích) vẫn đinh ninh rằng “ai cũng có thể thay thế được, dù cho đó là một thiên tài”. Nhưng đến hôm nay thì tôi nghĩ khác: “Có một người mất đi mà khó có ai thay thế được”.

Và cũng chắc chắn đã có khá nhiều bài viết về ông Huyền Vũ. Nhưng người ở Sài Gòn thì chưa chắc đã có ai viết về sự kiện này. Tuy nhiên, cũng không phải vì thế mà tôi viết về ông, tôi viết vì có một bổn phận thôi thúc phải viết, một tiếng nói của người hiện còn đang sống ở Sài Gòn tưởng nhớ và thương tiếc ông. Tôi không là đại diện cho ai cả, tôi viết với tính cách của một “fan” của ông cùng với một số bạn bè tôi, với nỗi tiếc thương.

QUAN PHU 鰥夫 – Theo trang “Ngày ngày viết chữ”



Hôm trước giới thiệu từ “tục huyền”, có bạn nói mình biên từ “quan phu” nữa nha, nên giờ có bài này.

“Quan phu”, chữ Hán viết là 鰥夫, trong đó:

– Quan là người goá vợ, Hán Việt tự điển của Thiều Chửu giảng “người goá vợ, người lớn tuổi mà không có vợ”. Trong bản Gia huấn ca (được cho là) của Nguyễn Trãi có câu:

Thương người quan quả cô đơn,
Thương người lỡ bước lầm than kêu đường*.

Trong đó “quan” 鰥 là người goá vợ, “quả” 寡 là người goá chồng, “cô” 孤 là mồ côi cha mẹ, “đơn” 單 (chính ra là “độc” 獨 nhưng vì niêm luật thơ mà ở trên dùng “đơn”) là già không con cái. “Quan quả cô độc” được gọi là “tứ cùng” (四窮), tức bốn nhóm người có tình cảnh đáng thương hơn cả theo quan niệm xưa.

– Phu là chồng, người chồng, người đàn ông như phu thê (夫妻) là vợ chồng, vị hôn phu (未婚夫) là chồng chưa cưới, tiều phu (樵夫) là người đốn củi.

“Quan phu” là người đàn ông goá vợ, cũng có thể chỉ người đàn ông lớn tuổi mà không có vợ. Việt Nam tự điển của Lê Văn Đức và Lê Ngọc Trụ giảng “người đàn ông độc thân, ở một mình, không vợ”. Ứng với “quan phu” là “quả phụ” (寡婦), nghĩa là người đàn bà goá chồng.

Bài Hạ trung tiếp đáo khuê vi hung tấn ai cảm kỷ thực (Giữa mùa hạ nhận tin vợ mất, ghi lại nỗi đau buồn) của Phan Huy Ích có câu:

Ky tình bôn phó vị tri kỳ,
Thiên lý quan phu trường uất kết.
 
羈情奔訃未知期,
千里鰥夫腸鬱結。
 
Tạm dịch: 
  
Thương xót nơi xa nào bày tỏ,
Ngàn dặm quan phu dạ kết sầu.
….
* Cũng có bản chép “Thương người đói rét/đói rách lầm than kêu đường”.
                                                       Theo trang “Ngày ngày viết chữ”

Thứ Hai, 26 tháng 10, 2026

GIÁO SƯ HOÀNG XUÂN HÃN, NGƯỜI CÓ HỌC THỨC THẬT, GIỎI THẬT KHI LÀM LÃNH ĐẠO - Nguyễn Thị Bích Hậu

Người trong hình là giáo sư Hoàng Xuân Hãn, nguyên Bộ trưởng Bộ Giáo dục và mỹ thuật của chính phủ Trần Trọng Kim năm 1945. Thành tựu của cụ trong 4 tháng làm Bộ trưởng ngắn ngủi là làm ra cho nước ta chương trình trung học đầu tiên dạy bằng Việt ngữ. Cụ cũng là người làm ra cuốn sách các danh từ khoa học bằng tiếng Việt đầu tiên giúp người Việt có các từ này để sử dụng tới bây giờ. 
 

Khi người tài làm Bộ trưởng Giáo dục, trong 4 tháng họ làm được gì?
 
Cụ Hoàng Xuân Hãn sinh năm 1908, quê làng Yên Hồ, huyện La Sơn, Đức Thọ, Hà Tĩnh. Thuở nhỏ cụ học chữ Hán và chữ Quốc ngữ tại nhà. 18 tuổi, cụ đậu bằng Thành chung, ra HN học trung học tại trường Bưởi, sau đó 19 tuổi cụ chuyển qua học Toán ở trường Lycée Albert Sarraut. Một năm sau, cụ đỗ thủ khoa tú tài toàn phần Pháp và nhận học bổng qua Pháp học. Cụ theo học tại trường Bách khoa Paris, sau đó học trường École Nationale des Ponts et Chaussées (Trường Cầu đường Paris). Từ năm 1934 đến năm 1936 Hoàng Xuân Hãn trở lại Pháp sau 4 tháng về nước, học và đậu cử nhân toán 1935 và thạc sĩ toán 1936 tại khoa Toán trường Đại học Sorbonne.
Học cao hiểu rộng, năm 1936 cụ về nước dạy trường Bưởi, hoàn tất cuốn Danh từ khoa học đầu tiên của VN, "một công trình rất đặc sắc để “khai đường mở lối” cho nền học thuật bằng tiếng Việt và chữ Quốc ngữ. Năm 1942, sách ra đời. 
 

ĐỒNG ÂM MINH TINH 明星,銘旌 - Tri thư đạt lễ


Trong tiếng Việt, minh tinh là một từ vựng đặc biệt với hai nguồn gốc và hai nét nghĩa hoàn toàn khác nhau, với một nghĩa dùng để chỉ người nổi tiếng, nghĩa còn lại thì liên quan đến nghi thức tang lễ truyền thống.

Theo ý nghĩa quen thuộc được sử dụng rộng rãi hiện nay, minh tinh được viết là 明星. Trong đó, Minh 明 có nghĩa là sáng sủa; còn Tinh 星nghĩa là ngôi sao. Ban đầu trong sách cổ Trung Quốc, minh tinh dùng để chỉ sao Kim, tức thần Vệ Nữ. Trải qua quá trình phát triển ngữ nghĩa, từ này được dùng để chỉ những phụ nữ nổi tiếng trong xã hội, rồi mở rộng để gọi những người có sức ảnh hưởng trong một lĩnh vực nhất định như diễn viên, ca sĩ, nghệ sĩ hay vận động viên nổi tiếng. Tiếng Việt đã tiếp nhận trọn vẹn lớp nghĩa này. 

Và, ít người biết rằng, trong tiếng Việt còn có một chữ minh tinh khác, được viết là 銘旌.
 

                    

Minh 銘 nghĩa là khắc, ghi chép. Bài "bi minh" khắc trên bia mà ta nghe chính là chữ Minh này. Tinh 旌 là lá cờ, gặp trong từ tinh kỳ. Minh tinh theo nghĩa trên chỉ một dải lụa buộc vào cành tre, trên đó ghi thông tin như tên họ, thụy hiệu, chức tước, học vị của người đã khuất. Theo phong tục xưa, minh tinh được dựng ở phía đông linh sàng. Khi đưa tang, người ta cầm minh tinh đi trước quan tài, đến lúc hạ huyệt thì phủ dải lụa ấy lên quan tài.

                       

Ngày nay, minh tinh với ý nghĩa này ít được sử dụng hơn, dẫu vậy thì dấu vết của lớp nghĩa này vẫn còn được lưu giữ trong văn học dân tộc:

“Cóc chết lại có minh tinh,
Thất nghiệp nằm đình có trống cầm canh.”
                                                    (Ca dao)
 
“Non nước tan tành hệ bởi đâu?
Rầu rầu mây bạc cõi Ngao Châu
Ba triều công cán vài hàng sớ,
Sáu tỉnh cương thường một gánh thâu.
Ải Bắc, ngày trông tin nhạn vắng,
Thành Nam đêm chạnh tiếng quyên sầu.
Minh tinh chín chữ lòng son tạc,
Trời đất từ đây mặc gió thâu!”
                             (Nguyễn Đình Chiểu)

                                                       Theo Tri thư đạt lễ - 知書達禮

NHÀ PHÊ BÌNH VĂN HỌC HOÀI THANH TRONG HỒI KÝ NGUYỄN ĐĂNG MẠNH

Trong Hồi ký Nguyễn Đăng Mạnh (chương XI dành riêng về Hoài Thanh), giáo sư Nguyễn Đăng Mạnh ghi lại những kỷ niệm, ấn tượng và quan sát cá nhân về nhà phê bình văn học Hoài Thanh qua các giai đoạn...

Vợ chồng nhà phê bình Hoài Thanh (1909.1982) những ngày công tác ở Huế.
Ảnh: Tạp chí Sông Hương.

Tôi được tiếp xúc với Hoài Thanh nhiều lần.
Hồi công tác ở một cơ quan của Tỉnh đảng bộ Thái Nguyên, tôi đã được nghe ông nói chuyện về thơ kháng chiến, tại một địa điểm ở thị trấn Phúc Trìu. Tiếp đó tôi học ở trường sư phạm trung cấp trung ương (đóng ở Chợ Ngọc, Tuyên Quang). Ở đây tôi lại được nghe ông nói về đề tài ấy một lần nữa. Cả hai lần đều vào năm 1949.
Khi tôi về học ở Đại học sư phạm Hà Nội (từ 1957 – 1960) thì ông đến dạy mấy bài về văn học Việt Nam thời trung đại: Kiều, Cung oán, Hoa Tiên, Phan Trần...

Chủ Nhật, 25 tháng 10, 2026

KHUẤT CHÌM – Thơ Lê Kim Thượng


  


Khuất Chìm
 
1.
Chuyện tình đâu dễ phôi pha
Cố quên càng nhớ, ngày xa đêm dài
Hai bờ hai đứa chia hai
Dòng sông ly biệt chạy dài mù xa…
Nhớ người xa cách giang hà
Nỗi buồn giấu kín nhạt nhòa dịu êm
Một mình tôi với bóng đêm
Nhớ nhung khe khẽ gọi tên một người
Tình như một áng mây trôi
Không duyên, dù có yêu rồi vẫn xa
Trái tim rạn nứt thiết tha
Trải bao ngang trái vẫn là trái ngang
Nợ duyên, duyên nợ lỡ làng
Cuộc tình lận đận dở dang đau lòng
Vọng Phu đã núi trông chồng
Em về phương ấy có trông phương này…
 
2.
Lòng buồn thở ngắn than dài
Tôi – Em giờ đã chia hai lối về
Em đi biền biệt xa quê
Tôi về cùng với lời thề ngây thơ
Thương nhau chín đợi, mười chờ
Nỗi buồn xa cách bơ vơ một người
Hương tình bay mất đi rồi
Vườn yêu xơ xác bồi hồi con tim
Tình xưa giờ đã khuất chìm
Bới lên dĩ vãng đi tìm chân dung
Yêu nhau, yêu tới vô cùng
Thì nay cũng đã ngàn trùng cách xa
Em đi khuất bóng quan hà
Tôi ôm kỷ niệm đôi ta một thời
Bây giờ đôi đứa đôi nơi
Em giờ đã trở thành người… “Ngày xưa”…
 
                   Nha Trang, tháng  10. 2026
                         LÊ KIM THƯỢNG

MÀU QUÊ HƯƠNG, SEN VỀ, KHI SỚM MAI – Thơ Tịnh Bình


   


MÀU QUÊ HƯƠNG
 
Chân phương hạt thóc đồng làng
Bốn mùa cày cấy mùa màng tốt tươi
Giần sàng trải nắng hong phơi
Mùa no ấm rạng môi cười lão nông
 
Hương quê chất phác ruộng đồng
Bờ dâu bãi mía xanh trong khoảng trời
Cánh diều cõng gió đi chơi
Hồn nhiên trẻ nhỏ nói cười rộn vang
 
Dòng sông uốn khúc đa mang
Vầng trăng thổn thức người sang ngang rồi
Xốn xang điệu lý mồ côi
Cuối trời chim trắng bồi hồi lòng ai
 
Chiều không tỏa khói mà cay
Rưng rưng quê mẹ thương hoài ngõ sau
Lục bình tím biếc lao xao
Dòng sông bóng núi nhuộm màu quê hương...
 

Thứ Hai, 12 tháng 10, 2026

TÂM NHANG – Thơ Lê Kim Thượng


          

 
Tâm Nhang
 
1.
Quê hương hai tiếng nhẹ nhàng
Mà sao đằm thắm, dịu dàng khôn nguôi
Nhớ bao kỷ niệm buồn vui
Bước chân lữ khách bùi ngùi về quê…
Lưng còng bóng Mẹ trên đê
Áo nâu vất vả đi về hôm mai
Sông quê vương vấn  lòng ai
Đẹp như dải lụa trải dài thướt tha…
Nắng chiều đổ bóng sân nhà
Mâm cơm lúa mới, chan hòa tình yêu
Chiều hoang tím cả rừng chiều
Đồng quê yên ắng, hiu hiu gió luồn
Núi cao khuất bóng hoàng hôn
Gió Heo May thổi bồn chồn chơi vơi
Ráng chiều tô đỏ chân trời
Cháy tàn ngọn nắng, đêm mời trăng lên…
 

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI, MỘT MÌNH, CÁNH CÒ HOÀNG HÔN - Thơ Tịnh Bình


        
 

MÙA THÔI LƯỢC GIẮT TRÂM CÀI
 
Mùa thu bứt cuống hanh hao
Heo may thả gió cồn cào âm xưa
Lá vàng hỏi nắng già chưa ?
Dập dìu ong bướm còn đưa lối tình
 
Giấc mơ hồ điệp làm tin
Rủ rê son phấn họa hình thanh xuân
Tháng năm dầu dãi gian truân
Đã từng mặn đắng, đã từng ngọt cay
 
Mùa thôi lược giắt trâm cài
Môi xinh hàm tiếu trang đài ngày xưa
Bây giờ đi sớm về trưa
Đành thôi cất nắng vào mưa chỉ mình...
 

BÚT LỰC MỘNG BÌNH SƠN - Vũ Hùng Khanh

                            
                               

 Trước 1975, chúng ta nếu thích đọc truyện Tàu, truyện kiếm hiệp và cả truyện Tây được dịch lại từ nguyên bản, thì chắc chắn phải biết tên tác giả - dịch giả Mộng Bình Sơn. Một cây bút sung sức, nhưng cũng đến lúc phải ẩn dật, đúng nghĩa không quan tâm thế sự bên ngoài đang diễn biến thế nào, kể cả chuyện người ta khai thác vô giới hạn các tác phẩm của mình!

                        
 
Mộng Bình Sơn tên thật là Phan Canh, sinh năm 1923, quê quán ở thôn Thọ Sơn, xã Nhơn Thọ, huyện An Nhơn, tỉnh Bình Định. Ông mất vào tháng 5/2011.

ĐOÀN PHÚ TỨ, HÀO HOA PHONG NHÃ MÀ QUYẾT LIỆT – Vũ Đình Hoè



Về một vài nhân vật trong ảnh "Khách thỉnh-1935" cụ Hòe có bài viết sau này trong sách hồi kí cuối cùng "Gương mặt những người cùng thế hệ", in trong Nam, khó tìm được ở Bắc. Bởi vậy tôi xin chia sẻ dần với các bạn.

Đoàn Phú Tứ sinh năm 1910 tại Hà Nội, tốt nghiệp Tú tài Tây, vào học Luật khoa Đại học Đông Dương, nhưng đến năm thứ hai thì bỏ, chuyển sang nghề báo, cộng tác với các báo Phong Hóa, Ngày Nay, Hà Nội báo, Tinh Hoa, Thanh Nghị. Ông và Thế Lữ là những người sáng lập nền kịch nói Việt Nam hiện đại, thành lập ban kịch nói Tinh hoa, sáng tác kịch, đạo diễn và làm diễn viên trong nhiều vở, từng trình diễn trên Nhà hát lớn thành phố Hà Nội như Ghen, Ngã ba… 

GÌN GIỮ TIẾNG VIỆT CỦA DÂN TÔI - Nguyễn Chương Mt


 
Ai nói theo tiếng thuần Việt (quốc âm, còn gọi Nam âm), ai nói theo âm HV (Hán-Việt), thảy đều tôn trọng. NHƯNG cho phép tôi quí mến cách nói THUẦN VIỆT hơn (trong trường hợp tiếng thuần Việt và âm HV cùng nghĩa), quí hơn hẳn!

/1/ "CUỐN" - "Quyển"

"Quyển", trong "quyển sách", là cách gọi dựa vào chữ Hán, là âm HV của 卷. Trong khi đó, "CUỐN" là tiếng thuần Việt, hoàn toàn nằm ngoài hệ thống HV của chữ Hán!

Trong chữ Hán có "quyển nhì" 卷二 , "quyển tam" 卷三; trong khi đó tiếng Việt gọi là "CUỐN hai", "CUỐN ba".

/2/ "GIÙM" ("GIÚP") - "Hộ"

Quí bạn vẫn thường nghe: "nhờ làm giùm (làm giúp)", "nói giùm", "thu giùm (thu giúp)". "GIÙM", "GIÚP" hoàn toàn là tiếng thuần Việt, KHÔNG phải âm HV!

Rồi, trong khi đó bạn lại nghe: "làm hộ", "nói hộ", "thu hộ". Từ đâu ra "hộ"? Bạn có ngờ nổi, "hộ" chính là âm HV của 護, dựa vào chữ Hán đó đa!

/3/ "LẺ" - "Linh"

Tỉ như đọc "305" là "ba lẻ năm", lại nghe "ba linh năm". Có phải "lẻ", "linh" thuộc về phương ngữ trong Nam, ngoài Bắc? Không phải!

Trong chữ Hán, có khoảng 50 ký tự viết khác nhau nhưng đều đồng âm "linh", đồng âm lủ khủ. Trong đó có ký tự 零 "linh", nghĩa gì vậy?

Chữ Hán viết 三 零 五, kéo theo âm HV là "tam linh ngũ" (305). "Linh" là âm HV của 零, nghĩa là "LẺ" trong tiếng thuần Việt!

Không phải phương ngữ gì hết trơn, ở đây, "LẺ" là tiếng thuần Việt, cùng nghĩa với "Linh" là âm HV (dựa vào chữ Hán) đó đa!

Chúng ta nói "tiền lẻ", đồng nghĩa trong chữ Hán đọc là "linh tiền" (零 錢). Có ai ở ngoài Bắc , mặc dù gọi "ba linh năm" (305, tức "ba lẻ năm"), đi gọi... "linh tiền" không? Không! Mà đều gọi "tiền lẻ", "LẺ"!

* Thấy gì?

"LẺ" đã là tiếng thuần Việt trong cả nước. Cũng như "CUỐN", "GIÙM" ("GIÚP") đều đã là tiếng thuần Việt trong cả nước.

Rồi, do chịu ảnh hưởng Hán hóa trong ngôn ngữ, đem tiếng thuần Việt có sẵn ... sửa theo âm HV từ lúc nào đó, rất lâu, riết "nhập tâm" nói hoài đã thành quen miệng.

Thời may, cũng vẫn còn trong tiềm thức về tiếng thuần Việt. Thành thử vẫn còn giữ lại cách nói "tiền lẻ" (chớ không "linh tiền").

-------

Tiếng thuần Việt KHÔNG nằm trong âm HV, trước đây được ghi bằng CHỮ NÔM. Như chữ Nôm 𥘶 (đọc là LẺ), 𢩾 (đọc là GIÚP), 𡑓 (đọc là GIÙM), 卷 (đọc là CUỐN, theo cách thức dị âm đồng nghĩa với "quyển").

                                                                          Nguyễn Chương-Mt