CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 26 tháng 4, 2026

"GIO" KHÔNG XUẤT HIỆN TRONG CÁC TỰ ĐIỂN CHỮ NÔM, CHỮ HÁN, TỰ ĐIỂN CHỮ QUỐC NGỮ ĐẦU TIÊN! VẬY, "GIO" TỪ ĐÂU? - Nguyễn Chương-Mt



* "Gio" (chẳng hạn, trong "Gio Linh") là một hiện tượng ngôn ngữ quái lạ lắm đa!

/1/ Những chữ như "gió", "giỏ", "giò" thuộc về quốc âm tiếng Việt, được ghi trong CHỮ NÔM. Nhưng, "gio" thì không thấy.
Kể cả biến âm từ ngôn ngữ khác thì chữ Nôm cũng ghi lại. Như "Mỹ Tho", "Cần Thơ", "Sóc Trăng" (biến âm từ tiếng Khmer), "Phan Rang", "Nha Trang" (biến âm từ tiếng Chàm) đều được ghi lại bằng chữ Nôm. Muốn hiểu nghĩa thì tra cứu nguyên ngữ tiếng Khmer, tiếng Chàm thì biết.
(mấy chữ trên đây, sách vở đều đã giải thích nghĩa gốc rồi)
Tỉ như "gio" thuộc về biến âm đi nữa, nhưng cũng không thấy ghi lại trong chữ Nôm!

/2/ Chữ Hán thì hoàn toàn KHÔNG có âm HV nào đọc là "Gio", mà chỉ có âm HV đọc "Do". Như trong Đại Nam nhất thống chí, viết bằng chữ Hán, ghi tên địa danh 由靈, âm HV là "Do Linh" - "Do", không "Gio"!

/3/ Còn tự điển chữ Quốc ngữ ĐẦU TIÊN là Tự điển Việt - Bồ - La (Dictionarium Annamiticum Lusitanum et Latinum) của giáo sĩ Đắc Lộ (Alenxander Rhodius, tiếng Pháp là Alexandre de Rhodes), xuất bản giữa thế kỷ 17 (năm 1651): hoàn toàn không có mục từ nào ghi “GIO” hết!

/4/ Hiện nay chúng ta viết bằng chữ Quốc ngữ abc, quí bạn gõ "g-i-o" thành "gio" dễ ợt; nhưng "gio" nghĩa gì thì không biết.
Hoặc "gio", rồi "Gio Linh"... có thể là biến âm từ ngôn ngữ khác, vậy từ ngôn ngữ nào để tìm hiểu nghĩa gốc (cũng "quái", cho dù biến âm thì chữ Nôm thông thường vẫn ghi lại, lưu lại kia mà! - như dẫn chứng /1/).

/5/ Ít nhứt là từ giữa thế kỷ 17, ký ức về chữ "GIO" đã bay đâu mất tiêu rồi (thành thử cuốn tự điển Việt -Bồ - La, chữ Quốc ngữ bấy giờ không ghi "Gio")!
Chữ Hán thì chắc chắn không có âm HV "gio".
Còn chữ Nôm, từ thế kỷ 17 trở ngược TRƯỚC ĐÓ, có ký tự nào được dùng để ghi và đọc là "gio" không?
Quí bạn nào biết, XIN GIÚP CHO BIẾT ký tự Nôm đó viết ra sao (cho biết nguồn mà ký tự đó được lưu lại).

* Sẵn trớn, nói nhanh: có người cho rằng "tro" đọc thành "gio", ồ, đó là cách phát âm của một số nơi ngoài Bắc, trong khi ở đây "Gio" (Gio Linh) là phát âm của người Quảng Trị (không đọc "tro" thành "gio"); mặt khác, kể cả người ngoài bắc phát âm "tro" thành "gio", tự điển chỉ ghi "Tro", không có "gio".

TẠM THAY LỜI KẾT

Vì chưa dám, chưa thể kết luận, nên "tạm thay lời kết".
Sự "biến mất" rất có thể liên quan đến việc "trục xuất" ngôn ngữ cách nào đó - chỉ thấy xuất hiện "gio" trở lại trong CHỮ QUỐC NGỮ mãi về sau này, nhưng do bị "cắt đứt", "trục xuất" nên không còn hiểu cho tỏ tường "gio" từ đâu ra, và ý nghĩa (chẳng hạn nghĩa của "Gio Linh" từ nguyên ngữ gốc).
Không chỉ "Gio", mà còn một số từ ngữ khác nữa cũng bị "đứt mạch" nên hiện nay nói mà không còn rõ nghĩa.
Soi tỏ, "tìm về dấu xưa", cũng là TÌM VỀ những biến động ẨN KHUẤT trong LỊCH SỬ ...
 
                                                                           Nguyễn Chương-Mt

ĐỒNG ÂM “BÍCH” TRONG TỪ HÁN VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮

Tiếng Việt có Bích, một âm đọc quen thuộc, đặc biệt phổ biến trong tên người và văn chương dân tộc, thường gợi vẻ đẹp trong trẻo, thanh cao và có phần quý giá. Thế nhưng trong hệ thống chữ Hán, đây là tập hợp của nhiều tự dạng khác nhau, với mỗi chữ đều có nguồn gốc và trường nghĩa bất đồng, góp phần tạo nên những sắc thái phong phú cho âm đọc này khi đi vào tiếng Việt.

 
Chúng là những chữ Bích nào?

Bích  nghĩa gốc là một loại ngọc quý hình tròn, ở giữa có lỗ, thường dùng làm lễ khí trong thời cổ. Chữ này thuộc kiểu hình thanh, gồm bộ Ngọc  () chỉ ý và chữ Bách  làm thanh phù. Theo quan niệm xưa, ngọc bích tượng trưng cho trời, sự viên mãn và hài hòa với hình dạng “ngoài tròn, trong rỗng”. Vì lẽ đó, Bích dần được dùng để chỉ ngọc nói chung, đặc biệt là loại ngọc quý, sau mở rộng sang nghĩa vẻ đẹp trọn vẹn, không tì vết, tốt đẹp, tròn đầy,...
 
                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Khi đi vào tiếng Việt, chữ Bích này trỏ cho vẻ đẹp tinh khiết và quý giá, cho nên những từ mà ta thường gặp trong tiếng Việt như toàn bích, hoàn bích, ngọc bích, bích nguyệt,... đều dùng nghĩa của chữ Bích này. Trong tên người, đây cũng là một chữ được ưa chuộng, hàm ý vẻ đẹp thanh cao, hoàn hảo và không chút khuyết điểm.
 
一朝大運有時至,
六印纏腰鳴得意。
黄金百鎰璧百雙,
從車千乘來鄉里。
 
Nhất triêu đại vận hữu thì chí,
Lục ấn triền yêu minh đắc ý.
Hoàng kim bách dật bích bách song,
Tòng xa thiên thặng lai hương lý.
Một mai vận đến công thành,
Tướng công sáu nước ấn vàng ý khoe.
Về làng nghìn chiếc cỗ xe
Trăm đôi ngọc bích trăm bè vàng y.
(Nguyễn Du, bản dịch thơ Lương Trọng Nhàn)
 
璧月高,宵煙裊裊,
銀河轉,漏鼓沈沈。
 
Bích nguyệt cao, tiêu yên niểu niểu,
Ngân hà chuyển, lậu cổ trầm trầm.
Nguyệt biếc cao, mây đêm lãng đãng
Ngân hà chuyển, trống điểm trầm trầm
(Tùng Thiện Vương, bản dịch thơ Phan Văn Các)
 
“Ngựa tuấn nọ còn để xương thiên lý, ngàn vàng chưa dễ mấy ai mua!
Ngọc bích kia chưa tỏ giá liên thành, giọt luỵ chớ hoài riêng kẻ khóc!”
                (Tản Đà)
 
Bích  có nghĩa là tường vách.

Đây là loại chữ hình thanh, gồm bộ Thổ  biểu ý và chữ Bách  biểu âm. Về sau chữ Bích này dần mở rộng ra nhiều tầng nghĩa khác liên quan, ví như chỉ các lớp bao bọc của sự vật như thành lũy trong quân sự, hay các cấu trúc bảo vệ của cơ thể,... Đồng thời chữ này cũng được dùng để chỉ vách núi dựng đứng, gợi cảm giác hiểm trở và hùng vĩ.
 
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Trong tiếng Việt, nghĩa này xuất hiện khá rõ qua một số từ quen thuộc ví như tường bích, thạch bích, bích họa, bích báo, xích bích,... Ngoài ra, Bích còn là tên của một vì sao trong hệ Nhị thập bát tú.
 
動如雲鶴,
靜如牆壁。
其輕如毛,
其重如石。
 
Động như vân hạc,
Tĩnh như tường bích.
Kỳ khinh như mao,
Kỳ trọng như thạch.
Động như hạc mây,
Tĩnh như tường vách.
Nhẹ tựa mảy lông,
Nặng như bàn thạch.
(Trần Thánh Tông, bản dịch thơ Phạm Tú Châu)
 
Sông Xích Bích luống thương người khốn quẫn,
Bến Tầm Dương còn nhớ khúc Ly tao,
Ngại ngùng thay trong lúc ba đào,
Ai đứng mũi chịu sào cho đáng mặt?”
                             (Trần Tuấn Khải)
 
Nghìn lẻ một đêm mộng thắp đèn
Hồn đi vào giấc ngủ hoa sen
Nền mây bích họa sương vờn bóng
Điên đảo trời sao mắt lượn thuyền.”
                                  (Đinh Hùng)
 
Bích  có nghĩa là xanh biếc.

                  
Hình ảnh: Đồng âm Bích, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Phàm những gì mang sắc xanh trong trẻo đều có thể gọi là Bích. Sách Thuyết Văn Giải Tự giảng rằng Bích là loại đá có màu xanh đẹp, gần giống với ngọc. Trong cách nhìn của người xưa, chữ Bích này chính là sắc xanh tinh khiết và sáng trong, thường gắn với những vật quý hoặc cảnh sắc thanh sạch, không nhiễm bụi trần.
Từ đó, chữ Bích xuất hiện nhiều trong tiếng Việt như ngọc bích, bích câu, Bích Câu kỳ ngộ,... thường được dùng rộng để chỉ màu xanh, đặc biệt là trong những hình ảnh trời xanh nước biếc. Đồng thời trong văn chương, Bích còn mang sắc thái thẩm mỹ rõ rệt, được dùng để khắc họa những không gian cao rộng, trong lành và có phần thoát tục.
 
庭舞胎禽雲掩關,
露華嚥罷覺清寬。
碧桃華下渾無事,
時倩東風掃石壇。
 
Đình vũ thai cầm vân yểm quan,
Lộ hoa yến bãi giác thanh khoan.
Bích đào hoa hạ hồn vô sự,
Thời thiến đông phong tảo thạch đàn.
Lân múa thai cầm mây đóng quan
Yên tan hoa lộ tiếng chuông khoan
Dưới hoa đào biếc rành vô sự
Sẽ mượn gió đông quét thạch đàn.
(Chu Văn An, bản dịch thơ Nguyễn Bích Ngô)
 
“Tuyển phu mặc ý tìm cho kỹ,
Chinh phụ thế nào bán lấy may.
Kỳ ngộ bích câu xin tiện hỏi,
Giá tiền cả đó tính sao vay.”
                (Hồ Xuân Hương)
 
“Thành tây có cảnh Bích Câu
Cỏ hoa góp lại một bầu xinh sao!
Đua chen thu cúc, xuân đào
Lựu phun lửa hạ, mai chào gió đông.”
                                  (Bích Câu kỳ ngộ)
 
                                                                      Bài viết của Khánh Ly
                                                                       Trích từ Tri thư đạt lễ

ĐÁNH GIÁ LẠI HOÀNG CAO KHẢI – PGS.TS Chương Thâu



Trong giới nghiên cứu sử học, nhà sử học - PGS.TS Chương Thâu nổi tiếng là người chuyên ... lật xới những gì mà lịch sử hoặc chính ông còn nghi vấn. Kết quả gần đây nhất là tác phẩm Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải - nhân vật vốn bị liệt vào hàng phản diện bởi những tội trạng khá nặng nề. Nhân Việt Sử Yếu của Hoàng Cao Khải được in và phát hành (NXB Nghệ An, 2007, Chương Thâu giới thiệu ), Thanh Niên có cuộc trao đổi thú vị với nhà sử học Chương Thâu.

CHÙM THƠ TỊNH BÌNH


    

 
 CAM LỒ TINH KHÔI
 
Về đâu trăm vạn nẻo đường
Trong veo giọt nước hay sương đầu cành
Vô phiền vô nhiễm vô tranh
Trời cao biển rộng loanh quanh sơn hà
 
Về đâu cát bụi đời ta
Phận sâu cái kiến cỏ hoa thương cùng
Mây trời nhật nguyệt riêng chung
Trăng in đáy giếng đóng khung gương hồ
 
Mịt mờ muôn lối hư vô
Giọt sương bé nhỏ dại khờ đơn côi
Từng hồi chuông vọng xa xôi
Là mưa hay giọt tinh khôi cam lồ
 
Hải triều từng lượn sóng xô
Dấu chân ngày cũ mơ hồ kiếp sương
Hơi tàn giũ sạch ghét thương
Là sông hay biển còn vương vấn gì...
 
 
NIỀM VUI BÉ MỌN
 
Khi mùa xuân đã ngoài tầm với
Đong đưa trên tầng cao sắc lá xanh
Dây thường xuân gọi tôi ngoài cửa sổ...
 
Dẫn tôi vào tinh khôi
Xòe nở tiếng chim buổi sớm
Vạt gió ủ hương bông hoa nào giấu mặt
Có chút bình yên trong tia nắng mai đầu ngày
Mỉm cười gọi tôi đi...
 
Những bước chân xuân xa dần
Lũ bướm ong thôi mê mệt với muôn hồng nghìn tía
Con đường tôi qua
Một chút bụi cát và gai góc
Chẳng nỡ hái bông hoa dại bên đường
Bởi nâng niu niềm vui bé mọn
Dành cho ai đó vô tình ngang qua...
 

TÌNH QUÊ – Thơ Lê Kim Thượng

 
  


Tình Quê
 
1.
Người về… một sớm bình minh
Vịn vào cơn nhớ… tìm hình tuổi thơ…
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh mơ cánh đồng
Màu trời xanh biếc, xanh trong
Chích chòe réo gọi hừng đông lên rồi
Một đàn chim sẻ rong chơi
Tiếng kêu ríu rít, tiếng rơi bồi hồi
Trời cao lãng đãng mây trôi
Dậy mùi hương đất, gió xuôi bãi bờ
Cảnh quê như thực, như mơ
Bâng khuâng, xao xuyến bài thơ không lời
Chuồn chuồn đậu ngọn mồng tơi
Cuối mùa lá úa, lá rơi đầy thềm
Nắng nghiêng xuống gót chân mềm
Áo nâu trong gió bóng em bồng bềnh…
 
2.
Rời xa quê cũ buồn tênh
Dòng sông chảy mãi, tuổi tên chất chồng
Cánh cò trắng, cánh gió đồng
Cánh diều bay giữa mênh mông trời chiều
Lá dừa chao gió liêu xiêu
Đồng xanh chao gió hiu hiu đậm tình
Nắng rơi từng giọt lung linh
Rơi trên nón lá rung rinh bóng tròn
Chiều tà nắng xuống đầu non
Ai mang giấu ánh hoàng hôn cuối ngày
Buồn buồn ngọn gió Heo may
Tan vào nỗi nhớ tràn đầy xanh xao
Gió mơn man, rét hanh hao
Thấm vào áo mỏng ngọt ngào tái tê
Người bình dị… người chân quê
Tay nâng ly rượu hẹn thề tri âm…
 
Nha Trang, tháng 04. 2026
Lê Kim Thượng
                

RÕ KHỈ - Thơ Lê Phước Sinh


  


RÕ KHỈ
 
Bị siết Vòng Kim Cô
Thiên Đình chơi xỏ lá phong làm Đại Thánh
Nhổ lông, gãi háng, nhăn nhó, trừng mắt...
dáo dác
ôm Thiết Bảng đằng vân tìm phương : - Bơ Cứu...
 
                                                     Lê Phước Sinh

CHÙM THƠ NGẮN CỦA TỊNH BÌNH

 


1. THÁNG TƯ
 
Hạ về thương quá lời ve
Chói chang cái nắng gọi hè ra chơi
Dỗi hờn mây thả mưa rơi
Đỏ hoe mắt phượng đầy trời tương tư...
 
 
2. SEN
 
Hiến dâng tất cả cho đời
Hoa thân rễ lá ngát lời sen hương
Giữa trời trơ mảnh đài gương
Im soi bóng nắng chân phương lối về...
 
 
3. QUÊ NHÀ
 
Gọi chi thao thiết tiếng gà
Vạch màn sương khói quê nhà ta đâu
Mịt mờ mấy nẻo bể dâu
Non xa biển biếc vọng sầu cố hương...
 
                                          Tịnh Bình

Thứ Hai, 30 tháng 3, 2026

TỪ ẤY – Thơ Lê Kim Thượng


   

Từ Ấy
 
1.
Em xa từ ấy đến giờ
Nhớ ai dáng nhỏ mịt mờ chân mây
Nhớ tà áo gió bay bay
Tôi về nhặt nhạnh tháng ngày trở trăn…
Bàn tay mười ngón búp măng
Vuốt ve mái tóc, tóc quăn mây trời
Tóc thề che nửa lưng người
Hoa đào thắm đỏ, môi cười nhẹ cong
Thơ ngây, mơ mộng, trắng trong
Đam mê tình tứ một lòng keo sơn…
Tôi – Em ai nhớ nhiều hơn
Nhớ em hờn dỗi tủi hờn thâu đêm
Ai làm nhung nhớ nhiều thêm
Ai làm ngây ngất con tim chung tình
Thương yêu cho hết lòng mình
Qua bao năm tháng chuyện tình không phai…
 

Thứ Bảy, 14 tháng 3, 2026

CHỮ “MINH” TRONG TIẾNG VIỆT - Bài viết của Khánh Ly, trích từ Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Đồng âm Minh, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Tiếng Việt có Minh - một chữ xuất hiện nhiều trong tên người Việt mà ta thường nghĩ ngay tới nét nghĩa sáng sủa, rõ ràng như bình minh, thông minh, minh bạch, v.v..

Nhưng Minh là một chữ khá đặc biệt, bởi vì nó không chỉ mang nghĩa tỏ tường mà ngược lại, Minh còn có cả nét nghĩa tương phản.
Minh  có nghĩa là sáng sủa, rực rỡ, trí tuệ. Trong Lục Thư, Minh  thuộc loại chữ hội ý. Nó được kết hợp từ hai chữ tượng hình là nhật  và nguyệt , mang ý nghĩa liên quan đến ánh sáng. Vì mặt trời và mặt trăng đều là những thiên thể phát sáng trong tự nhiên, sự tồn tại của chúng làm cho thế giới trở nên rực rỡ nên khi ghép hai chữ này lại với nhau, ta có Minh  với ý nghĩa sáng sủa. Đây cũng chính là nét nghĩa thường gặp trong tiếng Việt.

Thứ Sáu, 13 tháng 3, 2026

TÂY DU KÝ THÓA MẠ CHU NGUYÊN CHƯƠNG NHƯ THẾ NÀO? - Bài viết của Lại Nhật Quang



Độc giả khi tìm hiểu về đời sống cá nhân của Ngô Thừa Ân sẽ thấy không khó hiểu khi mà nhìn thấy trong Tây Du Ký đâu đâu cũng là những mật ngữ giễu nhại chế độ thống trị của nhà Minh đương thời, và đương nhiên không thể thiếu hoàng đế khai quốc nhà Minh - Minh Thái Tổ Chu Nguyên Chương
Hãy cùng xem những mật ngữ nào trong Tây Du Ký công khai thoá mạ vị hoàng đế này
 
1. Trấn Nguyên Đại Tiên
 
Là ông chủ sở hữu cây nhân sâm ở Ngũ Trang Quán - tác dụng của cây nhân sâm này thế nào thì anh em đọc truyện xem phim đều đã rõ, tôi không nhắc lại
Trấn Nguyên Đại Tiên còn tục gọi là Trấn Nguyên Tử - nghĩa là trấn áp giặc Nguyên, mà người đuổi cổ nhà Nguyên về thảo nguyên Mông Cổ là Chu Nguyên Chương
Trấn Nguyên Tử mang tiếng là ông tổ dòng Địa Tiên nhưng hành xử thì nhỏ mọn, tiểu nhân. Trọng nhau thì gọi là "cố nhân", khinh nhau thì thành tù nhân, bốn thầy trò Đường Tăng bị lão dùng đủ thứ cực hình như thả vạc dầu, lấy roi đồng quất toác da nát thịt, thế nhưng khi Ngộ Không ngỏ ý đi tìm thuốc chữa cây cho lão thì lão lại nói : Nếu ngươi cứu được cây nhân sâm của ta, ta bỏ qua mọi chuyện và kết nghĩa anh em. Ông vừa mới dùng hình với người ta xong phút sau đã muốn kết nghĩa anh em, con người gì lật mặt nhanh hơn bánh tráng
Đây là chi tiết ám chỉ thói bạc bẽo, vong ơn phụ nghĩa của Chu Nguyên Chương với các tướng lĩnh của mình, khi hoạn nạn thì trọng dụng, khi an hưởng thái bình thì đồ sát hết

TIẾNG CHAM CỦA BẠN: CHĂM HAY CHÀM, HAY...? – Bài viết của Inra Sara


Tác giả Inra Sara
 
Các bạn lưu ý: Đây là chủ đề nghiên cứu khoa học tôi đề cập từ lâu, chủ yếu cung cấp cho người đọc dữ liệu cần thiết để đối chiếu, hiểu biết. Rất mong không nên còm mang tính cực đoạn, phân biệt đối xử. Karun!

Từ "Chăm" chính thức được Nhà nước quy định gọi tên dân tộc Cham từ năm 1979. Từ quần chúng đến nhà nghiên cứu, từ nghệ sĩ cho đến giới khoa bảng đều sử dụng tên gọi này trong sinh hoạt, bài viết, thơ văn hay công trình khoa học của mình. Nhưng thỉnh thoảng vẫn có người dùng từ “Chàm”. Bởi hiện tại từ “Chàm” vẫn còn hiện hữu ở rất nhiều địa danh, tên gọi, danh từ riêng. Vân vân… Không hiếm người dùng nó. Rồi cũng không ít người cho như thế là không phải phép, nặng hơn - miệt thị dân tộc này.

XÓM LÀNG – Thơ Lê Kim Thượng


  
 

Xóm Làng
 
1.
Người về… đi giữa hàng cây
Dặm đường gió bụi nhuộm đầy cô liêu
Người về mái ấm nhà yêu
Đất nghèo xưa cũ cũng nhiều đợi mong…
Thẹn thùng cơn gió tàn Đông
Tiếng chim Chiền Chiện trên đồng hót vang
Mùa về êm ấm xóm làng
Đào hồng chúm chím, mai vàng chờ xuân
Rì rào sóng lúa vang ngân
Hẹn người mùa vụ đầy sân lúa vàng…
Sợi mây cõng vạt nắng tan
Gió qua vườn vắng muộn màng chơi vơi
Nắng vàng còn chút đem phơi
Giọt chuông lắng đọng rơi rơi lưng đèo
Mái hiên cong mảnh trăng treo
Đêm buông dìu dịu xóm nghèo xanh xao…
 

XUÂN CÒN LẠI, VŨ THỦY – Thơ Tịnh Bình


   

XUÂN CÒN LẠI...
 
Dạo chơi cùng mây trắng
Én lượn trời bao la
Cỏ xanh và nắng ấm
Gió xuân hát tình ca
 
Mùa reo chồi lộc nõn
Lung linh cánh bướm vờn
Thẹn thùng chi hoa thắm
Muôn tía với nghìn hồng
 
Đã qua rồi Tết ấm
Còn lại xuân nồng nàn
Giêng hai ngồi hong tóc
Mây trời xanh thênh thang
 
Đâu cần chi gương lược
Điểm trang ngày thanh tân
Ngọt giọng chim cành biếc
Thả tiếng xuân trong ngần...
 

TẦM XUÂN – Thơ Lê Phước Sinh

 
   

Rải hoa trên áo ngọt ngào
Giọt sương nở nụ tháng ngày dõi xa
tạo men chuốc mộng sơn hà
bình an ấm áp quyện vào hương xưa.
 
                                  Lê Phước Sinh

Thứ Tư, 25 tháng 2, 2026

KHAI SINH –Thơ Trần Mai Ngân


 

Giữa phong phanh cõi người
Tôi lạnh buốt run lên
Có bàn tay không tên
Choàng lên đôi vai gầy
Chiếc áo dệt tầm gai…
 
Giữa chông chênh cuộc đời
Tôi rơi dòng nước mắt
Chiếc khăn thơm dịu mát
Lau khô và ôm chặt
Vỗ về rồi bình minh….
 
Giữa long đong sinh linh
Người gieo vào niềm tin
Cứu rỗi tâm hồn chết
Như đã hóa vàng tôi
Và khai sinh kiếp mới!
 
**Ơn người
 
Trần Mai Ngân

Thứ Ba, 24 tháng 2, 2026

NHÌN CÔ GÁI LÀM NAIL ĐƯỜNG XA CHỜ XE BUS – Thơ Trần Vấn Lệ




Lạnh.  Không mở cửa được!
Mùa Đông đứng bên ngoài.
Không tiếng gà buổi mai
Tại mùa Đông... lạnh quá.
 
Mà cũng kỳ quá há:
Xe bus vẫn chạy mà
Cô gái đi làm xa
Sáng đứng chờ xe bus...
 
Một năm hơn, thường nhật
Bốn mùa thời tiết thay
Người con gái không đi,
Người con gái đứng đợi!
 
Ánh đèn đường chiếu rọi
Một Tượng Đá  Co Ro!
Tôi nghĩ đó, câu thơ
tôi-viết-nhòe-nước-mắt!
 
Xe bus dừng một phút,
cô gái ấy leo lên...
cô ấy không có điên!
Cô về Việt Nam đấy!
 
Sông thời gian cứ chảy
có nước mắt chảy theo
cái bến về:  Thương Yêu
Bà-Con-Quê-Nhà-Nhớ...
 
*
Tôi không dám mở cửa
Tôi sợ quá mùa Đông!
Tôi không ôm vào lòng
một lần nữa Tổ Quốc...
 
                 Trần Vấn Lệ

HOÀNG CẦM VÀ “NẾU ANH CÒN TRẺ” - Huỳnh Duy Lộc


Nhà thơ Hoàng Cầm

Hoàng Cầm tên thật là Bùi Tằng Việt, sinh ngày 22 tháng 2 năm 1922 tại xã Phúc Tằng, huyện Việt Yên, tỉnh Bắc Giang, nhưng quê gốc ở xã Song Hồ, huyện Thuận Thành, tỉnh Bắc Ninh. Thuở nhỏ, ông học tiểu học, trung học ở Bắc Giang và Bắc Ninh, đến năm 1938 ra Hà Nội học trường Thăng Long. Năm 1940, ông đậu tú tài toàn phần và bước vào nghề văn, dịch sách cho Tân dân xã của ông Vũ Đình Long. Từ đó, ông lấy bút danh Hoàng Cầm là tên một vị thuốc đắng của Đông y.
 

CHỮ “THỌ” (壽) - Bài viết của Khánh Ly, theo Tri thư đạt lễ 知書達禮


Hình ảnh: Thọ, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ
 
Sau Phú và Quý, Ngũ phúc bàn đến Thọ. Thọ, chữ Hán viết .
Theo sách Thuyết Văn Giải Tự, Thọ được giảng là lâu dài. Chữ này cấu tạo từ bộ Lão  tỉnh lược biểu ý và chữ Thọ 𠷎 biểu âm. Buổi đầu, Thọ được dùng với nghĩa tuổi thọ và sinh mệnh con người, gắn với khái niệm về thời gian tồn tại chứ vẫn chưa mang ý chúc tụng hay lễ nghi. Càng về sau, chữ Thọ mới dần phái sinh ra nhiều lớp nghĩa, ví như: