CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Chủ Nhật, 23 tháng 8, 2026

LỄ THẤT TỊCH: "ĐẬU TƯƠNG TƯ" VÀ ĐẬU ĐỎ - Bài viết của Khánh Ly


    Bài thơ Tương tư, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩHình ảnh: Bài thơ Tương tư, thủ bút của Thanh Đài nữ sĩ

Vào ngày lễ Thất Tịch, người ta thường nhớ đến Ngưu Lang - Chức Nữ, mối tình cách trở chỉ gặp nhau một lần mỗi năm. Trong văn hóa Trung Hoa, có một biểu tượng cũng gắn liền với nỗi nhớ thương ấy là hồng đậu 紅豆 - một loài đậu có hạt đỏ au, cứng như ngọc, từ lâu đã được xem là tín vật tình duyên, từng được thi nhân Vương Duy thời Đường khắc họa trong bài thơ "Tương tư" nổi tiếng:            

紅豆生南國,

春來發幾枝。

願君多採擷,

此物最相思。

Phiên âm:

Hồng đậu sinh Nam quốc,

Xuân lai phát kỷ chi.

Nguyện quân đa thái hiệt,

Thử vật tối tương ti (tư).

Dịch thơ:

Nước Nam sinh đậu đỏ

Xuân về nở cành xinh

Chàng ơi hái nhiều nhé

Nhớ nhau tha thiết tình.

(Bản dịch thơ Hải Đà)

Từ đây, hồng đậu được gọi là đậu tương tư, dần trở thành biểu tượng cho tình yêu và nỗi nhớ. Người xưa tin rằng hạt đậu đỏ cứng như ngọc, vỏ đỏ như trái tim, gửi gắm được tâm ý “tâm tâm tương ấn”, tức hai trái tim in dấu vào nhau. Cũng có truyền thuyết kể rằng vào thời Hán, có một chàng trai bị ép đi lính, người vợ của anh ngày ngày ngóng trông dưới gốc cây ở cổng làng, khóc đến nỗi ra máu mà qua đời. Sau khi người vợ mất, trên cây bỗng dưng kết thành những trái có màu đỏ rực, người ta cho rằng đây chính là những giọt huyết lệ của người vợ và gọi nó là "hồng đậu" hay "tương tư tử".

Ngày nay ở Việt Nam, truyền thông thường nhầm lẫn loại đậu này với đậu đỏ (Adzuki) dùng nấu chè. Thực ra, đậu tương tư (Adenanthera pavonina) hay còn gọi muồng cườm vốn là loại đậu hạt cứng, có độc tính mạnh, chỉ dùng làm trang sức như vòng tay cầu duyên, chúc bình an hoặc trừ tà,... chứ không ăn được. Ở Trung Quốc, từ xưa đến nay chỉ ghi nhận phong tục xâu hạt cầu duyên, tặng vòng hạt vào lễ Thất Tịch mà thôi. Tục ăn chè đậu đỏ vào lễ Thất Tịch ở Việt Nam là ảnh hưởng của truyền thông hiện đại, không liên quan gì đến tích thơ hay biểu tượng hồng đậu tương tư trong văn hóa cổ truyền.

Nhân ngày lễ Thất Tịch, chúc mọi người luôn bình an, khỏe mạnh, người thương ai thì gặp, kẻ nhớ ai thì gần, ai chưa có người thương sẽ gặp người đúng lúc:

"Chữ đồng lấy đấy làm ghi,

Mượn điều thất tịch mà thề bách niên."

                                                                     Bài viết của Khánh Ly

ĐÔNG TRÙNG HẠ THẢO 冬蟲夏草 – Ung Chu, theo Hán-Việt Thông Dụng



"Đông trùng hạ thảo" 冬蟲夏草 là tên loại thảo dược có bản chất là nấm kí sinh trên sâu. Vào mùa đông, nấm này xâm nhập cơ thể sâu và làm sâu chết, lúc này nấm phát triển bên trong sâu nên ta vẫn thấy hình dạng sâu. Đến mùa hè, nấm bắt đầu phát triển khỏi xác sâu và vươn lên trên mặt đất, trông như một loại cỏ cây (thực vật).
- đông : mùa đông
- trùng : sâu bọ
- hạ : mùa hè, "hè" là âm Hán-Việt cổ xưa của nó (theo phiên thiết mang vần "myà → mè > ma" )
- thảo : cỏ, thảo mộc, chữ này mang bộ "thảo"  (cỏ cây) và kía âm bằng chữ "tảo" . Chữ "thảo"  nguyên bản là chữ tượng hình vẽ cỏ.

Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026

NHÂN VẬT TRẦN HỮU LƯỢNG TRONG VIỆT SỬ VÀ MINH SỬ - Bài viết của Nhat Ngo



Trần Hữu Lượng theo Việt Sử là người gốc Việt (con Trần Ích Tắc), ông từng là Hoàng Đế một phần lớn lãnh thổ của Trung Quốc, tranh bá đồ vương với Chu Nguyên Chương nhà Minh, ông thua vì không gặp thời và mưu Lưu Cơ thôi, nếu không thì lịch sử Việt- Hán sẽ không như hiện nay.
 

THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG LÀ KHÔNG CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ- Theo Hạnh Nguyễn


Học giả Lê Mạnh Thát
 
…Trong khi phát hiện truyền thuyết trăm trứng nằm trong Lục Độ tập kinh, thiền sư – giáo sư Lê Mạnh Thát còn khám phá một sự thật lịch sử thú vị liên quan đến An Dương Vương và Triệu Đà.
 
Từ truyền thuyết trăm trứng nằm trong truyện 23 của Lục Độ tập kinh, ông đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và lại phát hiện truyền thuyết An Dương Vương giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana. Đối chiếu với tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, ông khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam thời Hùng Vương mà thôi.
 

NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm



Nhuận bút, chữ Hán viết 潤筆. Theo Từ điển tiếng Việt (Hoàng Phê), “nhuận bút” là tiền trả cho tác giả đối với các công trình văn hóa, nghệ thuật, khoa học được xuất bản hoặc được sử dụng. Nói cách khác, đây là cách gọi của “tiền tác quyền” trong đời sống hiện đại.
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận  là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút  là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.

Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.

人過伊川悲野祭,
客從東洛感山傾。
北窗許久凄涼甚,
潤筆含杯意未平。

Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,
Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.
Bắc song hứa cửu thê lương thậm,
Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.

Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,
Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.
Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,
Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.
(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)

Sẵn món tiền nhuận bút
Ông ra phố tức thì
Đi lùng mua bằng được
Bóng da, có véc ni.”
                       (Tú Mỡ)

Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốt
Ngoảnh lại còn ta con nít đến già
Rồi một ngày mẹ Đốp cười móm mém
Em vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”
                                    (Nguyễn Duy)
 
                                                                        Bài viết của Trúc Âm
 
PHỤ CHÚ:

Chữ "Nhuận" ( / ) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
 giản thể của chữ 

“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi

- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói

- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).

- “Nhuận”  /  :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy ( - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà. / 
- Tràng/Trường  /  Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt ( - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.

- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.

CHIM TRỜI – Thơ Lê Kim Thượng


   


Chim  Trời
 
1.
Đôi ta như cánh chim trời
Đôi chim liền cánh không rời xa nhau…
Dừng chân đứng lại bên cầu
Nhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chan
Yêu nhau yêu tới vô vàn
Yêu bờ mi khép, yêu làn môi xinh
Yêu nhau cho cạn lời tình
Những ngày hạnh phúc chúng mình chân quê
Mắt nhìn đăm đắm si mê
Tôi và em giữa bốn bề tình yêu
Nụ hôn trong nắng liêu xiêu
Ngọt ngào thắm thiết với nhiều chút chăm
Ước gì “Hạnh phúc trăm năm…”
Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên
Quên đi cơm áo, gạo tiền
Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…
 

Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026

"NGỰA XE NHƯ NƯỚC ÁO QUẦN NHƯ NEN" - Bài viết của Khánh Ly



“Dập dìu tài tử giai nhân,
Ngựa xe như nước, áo quần như nen.”
                                   (Truyện Kiều)

Ngựa xe như nước, vốn lấy ý từ thành ngữ Xa thủy mã long, chữ Hán viết 車水馬龍, nghĩa là cảnh phồn hoa xe cộ nối nhau như dòng nước chảy, ngựa đi liên tiếp như rồng uốn lượn. Thành ngữ này xuất phát từ Hậu Hán thư, khi chép về Mã thái hậu thời Hán Chương Đế:

 Xa như lưu thủy, mã như du long 
    車如流水,馬如游龍",

Tạm dịch là: 

Xe như nước chảy, ngựa như rồng bơi.

Ở câu 47-48 Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:

"Dập dìu tài tử giai nhân
Ngựa xe như nước, áo quần như nen."

"Như nước" thiên về chuyển động liên tục, còn "như nen" nhấn mạnh mật độ dày đặc, che kín không gian. Nhiều bản Kiều ngày nay chép "áo quần như nêm", trong đó bản khảo dị của Nguyễn Quảng Tuân giải thích: "nêm" đây là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng… Cả câu 48 ý nói ngựa xe qua lại liên tiếp như nước chảy, khách du xuân áo quần đẹp đẽ chen khít nhau như những mảnh nêm ở trên mặt thớt cối xay. Câu này đặt theo lối tiểu đối: "thủy" (danh từ) đối với "nêm" (danh từ).
Song cũng có học giả cho rằng chữ đúng trong nguyên tác là “nen”, ví như trong Truyện Kiều dẫn giải, Lê Văn Hòe giảng nen là một loài cỏ mọc ở ruộng nước, thân nhỏ, mọc thẳng và đặc kín thành từng đám lớn. Vùng đồng chiêm Ninh Bình, Thanh Hóa hễ có nước là có nen, từng cây ken sát nhau đến mức nhìn xa như phủ kín cả mặt ruộng. Vì vậy "áo quần như nen" là người mặc áo quần chen vai sát cánh, đông đặc như bụi cỏ nen ngoài đồng.

Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026

ĂN THỊT, UỐNG MÁU CHÚA JESUS !?! – Bài viết của La Thuỵ




Nhiều bạn lương dân ngoại giáo trong vài dịp dự Thánh Lễ ngày Chúa nhật trong giáo đường Thiên Chúa giáo, khi nghe Linh Mục đọc 
“Này là Mình Ta hãy cầm lấy mà ăn. Này là Máu Ta hãy nhận lấy mà uống. Vì Giao Ước này đổ ra cho muôn người. Hãy làm việc này mà tưởng nhớ đến Ta”.
Họ ngạc nhiên và trao đổi với nhau, thậm chí viết trên Face: “Tín hữu Công giáo ăn thịt uống máu Chúa, dễ sợ quá!”
 
Chúa Jesus thường được tuyên xưng là “mục tử nhân lành” (là người chăn chiên hết lòng yêu thương, am hiểu, bảo vệ và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho đoàn chiên của mình, trái ngược hoàn toàn với kẻ chăn thuê chỉ vì lợi ích cá nhân mà bỏ chạy khi gặp thú dữ)

Nhưng ít lương dân ngoại giáo biết rằng rằng Chúa Jesus còn có danh hiệu “Chiên Thiên Chúa”.
Chúa Jesus chịu làm của lễ hiến tế giống như con cừu non trong Lễ Vượt Qua để cứu chuộc nhân loại.

SANG THU, ĐÔI MẮT, NGÀY XƯA – Thơ Tịnh Bình


  

 
SANG THU
 
Nghe mưa gội lá xanh chồi
Tường vôi bông giấy bồi hồi tuổi thơ
Thương con chuồn ớt thờ ơ
Ham chơi để ướt giấc mơ bờ rào
 
Thị vàng hong nắng cành cao
Tiếng chim tươi rói tranh nhau quả mềm
Trời xanh, xanh đến dịu êm
Mùa thu ngày ấy giờ tìm chốn nao ?
 
Tên mình ai gọi lao xao
Ngân nga chuông gió cồn cào âm xưa
Sang thu hỏi cúc vàng chưa ?
Trong mơ hoa mướp cũng vừa đi xa...
 

QUÊ CHIỀU – Thơ Lê Kim Thượng


   

 
Quê  Chiều

1.
Quê hương xa lắm thân thương
Người về tìm khúc “… Ầu ơ…”
Lời ru xưa cũ, tuổi thơ xa mù
Lời ru có “…Gió mùa thu…”
Võng đưa kẽo kẹt, tiếng ru trong ngần
Đồng chiều vọng tiếng chuông ngân
Bờ tre nghiêng ngã ngại ngần liêu xiêu
Nhẹ nhàng trong gió phiêu phiêu
Sáo ai đổ tiếng, trời chiều đồng khô
Nghiêng vành nón lá nhấp nhô
Giữa làn sóng lúa xanh xô dập dìu
Hoàng hôn thèm một cánh diều
Hãy xin cứ để bóng chiều bay qua
Cơm chiều mắm muối, dưa cà
Thảo thơm hạt gạo đồng xa ngọt bùi…

2.
Một đời đi ngược về xuôi
Cuối đời chỉ thấy ngậm ngùi xót xa
Khói sương, sương khói nhạt nhòa
Một mình đối bóng, mình ta rối bời
Hoang vu khuất nẻo đường đời
Núi rừng xa khuất, chơi vơi thiếu thừa…
Nhớ Cha cày cấy ngày mưa
Áo tơi của Mẹ sớm trưa trên đồng
Chợ làng mua bán còn đông
Áo nâu của Mẹ, áo hồng của em
Cuộc đời điên đảo, đảo điên
Về quê tìm lại một miền rong chơi…
Mẹ đi ngày ấy xa khơi
Lòng con nhớ Mẹ… Mẹ ơi… Mẹ hiền…
Mẹ đi buông bỏ ưu phiền
Về miền Cực Lạc… Về miền Vãng Sinh…
 
                    Nha Trang, tháng  08. 2026
                           LÊ KIM THƯỢNG

Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026

THƯ GỞI VỢ CỦA CỐ NHÀ VĂN DUYÊN ANH – Đinh Tiến Luyện, Vũ Phan Anh sưu tầm

Thuở thiếu thời, tôi mê mẩn những tác phẩm của Duyên Anh, đọc hầu như ko thiếu cuốn nào của ông ấy, từ Dũng Đa kao cho tới Điệu ru nước mắt và Sa mạc tuổi trẻ. Sau 30/4/1975, văn tài ảnh hưởng khá nhiều đến thanh thiếu niên miền Nam này phải xách gói vào trại cải tạo rồi sau đó sống lưu vong trong đau khổ. Dưới đây là thư ông viết gởi cho vợ mình năm 1969. Tôi dẫn lại từ Fb của nhà văn Đinh Tiến Luyện ngày 21/4/2020 - như một nén tâm nhang thắp cho ông.


                                                                                       Vũ PhanAnh

Hình ông bà Duyên Anh chụp năm 1982 trước vài ngày bà Duyên Anh cùng con lên đường sang Pháp định cư
 
Thư viết cho vợ
Nhà mình.. Nửa đêm…
 Phượng yêu dấu!
Đêm nay, anh cố ý thức thật khuya để khởi viết cuốn thứ ba trong bộ truyện dài sáu cuốn của anh. Đời anh sẽ chỉ loay hoay ở bộ truyện này. Bởi vì, bộ truyện này anh viết tặng con chúng ta. Bởi vì, khi anh viết bộ truyện này tâm hồn anh không phải là tâm hồn của anh hiện tại, thứ tâm hồn què quặt, xảo trá, thủ đoạn của người sớm bước xuống cuộc đời, sớm biết cuộc đời để sớm ghê tởm cuộc đời. Tâm hồn anh, khi viết truyện tặng con chúng ta là tâm hồn của ngày xưa còn bé. Tâm hồn ấy đã ngập ứ kỷ niệm hoa bướm, trong suốt pha lê. Cho nên, hễ anh viết, ý tưởng từ óc chảy xuống tim chảy ra năm đầu ngón tay anh. Và anh viết rất nắn nót. Viết cả đêm chỉ được ba trang giấy. Như lần khởi sự viết cuốn thứ nhất. Phượng ạ, anh đốt hết nửa gói thuốc lá, uống cạn một chai nước lọc mà vẫn chưa “đẻ” được dòng nào. Thế mới biết thực hiện đúng ý muốn của mình bao giờ cũng khó.

GIANG HỒ LÀ GÌ? – Bài viết của Tiểu Vũ


                                    Ảnh: Tác giả bài thơ Phạm Hữu Quang - Ông sinh 1952 mất năm 2000

Những ngày gần đây, những cái tên như Huấn Hoa Hồng, Khánh Sky lại được nhắc nhiều trên mạng xã hội, thường đi kèm một danh xưng đã trở nên quen thuộc: “giang hồ mạng”.
 
Nhưng nếu trở về với nghĩa gốc của hai chữ “giang hồ”, có lẽ phải đặt một câu hỏi khác: những người được gọi như vậy hôm nay có thật sự xứng đáng với hai chữ “giang hồ”?
 
“Giang hồ” là một từ Hán - Việt, viết bằng chữ Hán là 江湖. Trong đó,  (giang) nghĩa là sông lớn, còn  (hồ) nghĩa là hồ nước. Theo nghĩa gốc, giang hồ là sông và hồ, dùng để chỉ không gian sông nước rộng lớn. Từ hình ảnh địa lý này, về sau “giang hồ” mới được mở rộng thành một khái niệm văn hóa, chỉ thế giới bên ngoài chốn quan trường và đời sống quyền lực.
 

Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026

TÔI ĐÃ BIẾT GÌ VỀ NHẤT LINH - Đông Hồ

                                         (Fb Thú chơi sách)

 

                            Chân dung Nhất Linh của danh họa Nguyễn Gia Trí. 
                               Bức họa chưa hoàn tất, bàn tay còn dang dở.


Anh Nguiễn-Ngu-Í,

Chắc rằng anh muốn hỏi tôi về Nhất-Linh; chớ không hỏi tôi về Nguyễn-Tường-Tam. Có như thế thì tôi mới trả lời anh được. Nói như vậy là tôi muốn nhận định phân minh hai lãnh vực trong một nhân-vật. Là tôi chỉ có biết về nhà văn - sĩ Nhất-Linh mà không được biết về nhà chính trị Nguyễn-Tường-Tam.

Tôi có cảm tình với Nhất - Linh, tôi có yêu mến Nhất-Linh, tôi có phán đoán về Nhất-Linh, là tôi nhìn Nhất-Linh ở trong địa hạt văn chương, vì bút hiệu đó xuất hiện như một ngôi sao chói lọi trên nền trời văn học.

Trừ ra hai tác phẩm đầu tay khi mới tập viết để vấn thế là Nho PhongNgười Quay Tơ, ký tên là Nguyễn-Tường-Tam, còn tất cả tác phẩm năm 1932-1933 trở về sau, đều ký bút hiệu là Nhất-Linh, trong sách cũng như trong báo, từ Phong-hóa Ngày-nay ở Hà-nội cho đến Văn-hóa Ngày-nay, tại Sài-gòn hồi gần đây.

Phán đoán về văn nghiệp Nhất-Linh, tôi có hai nhận định này:

1.- Văn trào phúng của báo Phong-hóa, Ngày-nay.

2.- Văn tiểu thuyết của Tự-lực văn-đoàn.

***

KHI CUỒNG TÍN BIẾN CON NGƯỜI THÀNH DÃ THÚ - Henry Quang Vũ



Lịch sử loài người từng chứng kiến không ít thảm họa xuất phát từ sự bạo ngược, nhưng hiếm có bi kịch nào đau đớn và ê chề như thời kỳ "Cách mạng Văn hóa" (1966 – 1976) tại Trung Quốc. Dưới cái mác "cách mạng" cùng khẩu hiệu "Phá Tứ Cựu" (phá bỏ tư tưởng cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, tập quán cũ), một thế hệ thanh thiếu niên bị tha hóa, cuồng tín đã biến thành công cụ trong tay Hồng Vệ Binh. Từ những học sinh, sinh viên mang tri thức, chúng trở thành lũ "dã thú" nhân danh lý tưởng để xé rách nền văn minh hàng nghìn năm, chà đạp lên những giá trị nhân bản tối thiểu nhất của con người: sự tôn trọng đối với người đã khuất.