NỖI NIỀM
Thứ Bảy, 22 tháng 8, 2026
THỜI AN DƯƠNG VƯƠNG LÀ KHÔNG CÓ THẬT TRONG LỊCH SỬ- Theo Hạnh Nguyễn
…Trong khi phát hiện truyền thuyết trăm trứng nằm trong Lục Độ tập kinh, thiền sư – giáo sư Lê Mạnh Thát còn khám phá một sự thật lịch sử thú vị liên quan đến An Dương Vương và Triệu Đà.
Từ truyền thuyết trăm trứng nằm trong truyện 23 của Lục Độ tập kinh, ông đối chiếu với một dị bản bằng tiếng Phạn và lại phát hiện truyền thuyết An Dương Vương giống như câu chuyện về trận đánh quyết định trong anh hùng ca Mahàbhàrata giữa hai anh em Pandu và Duryodhana. Đối chiếu với tất cả những gì được ghi trong Sử Ký của Tư Mã Thiên và các tài liệu cổ sử khác của Trung Quốc, ông khẳng định truyền thuyết An Dương Vương đánh bại vua Hùng Vương thứ 18 rồi lập nên một triều đại (dưới ngòi bút của Ngô Sỹ Liên trong Đại Việt sử ký toàn thư) là không có thật, nó chẳng qua chỉ là một phiên bản của câu chuyện Mahàbhàrata từ Ấn Độ truyền vào Việt Nam thời Hùng Vương mà thôi.
NHUẬN BÚT 潤筆 - Bài viết của Trúc Âm
Tầm nguyên từ điển giảng: Nhuận 潤 là thấm ướt, làm cho mềm và trơn; Bút 筆 là cây bút, ngòi bút, cũng chỉ việc viết lách và sáng tác văn chương. Như vậy, Nhuận bút nguyên nghĩa là “làm ướt ngòi bút”, tức làm mềm lông bút trước khi viết.
Từ này về sau dần được dùng để trỏ thù lao dành cho người sáng tác văn chương, viết chữ hoặc vẽ tranh. Thời xưa, việc trả "nhuận bút" cho người viết rất phổ biến, đặc biệt với những người chuyên viết bia ký, chiếu chỉ hoặc văn chương cung đình.
Trong tiếng Việt hiện nay, từ này được dùng hoàn toàn theo nghĩa phổ biến của từ điển: khoản tiền trả cho tác giả khi tác phẩm được sử dụng hoặc công bố.
人過伊川悲野祭,客從東洛感山傾。北窗許久凄涼甚,潤筆含杯意未平。Nhân quá Y Xuyên bi dã tế,Khách túng Đông Lạc cảm sơn khuynh.Bắc song hứa cửu thê lương thậm,Nhuận bút hàm bôi ý vị bình.Qua xứ Y Xuyên buồn đám tế,Về vùng Đồng Lạc cảm chuông rơi.Lâu nay cửa bắc ngồi tê tái,Rượu nhấm bút cầm dạ chửa vơi.(Nguyễn Khuyến, bản dịch thơ Phạm Thúy Lan)“Sẵn món tiền nhuận bútÔng ra phố tức thìĐi lùng mua bằng đượcBóng da, có véc ni.”(Tú Mỡ)“Con chữ vụn rụng rời tơi tả tuốtNgoảnh lại còn ta con nít đến giàRồi một ngày mẹ Đốp cười móm mémEm vẫn nguồn nhuận bút suốt đời ta.”(Nguyễn Duy)
Chữ "Nhuận" (润 / 潤) thuộc bộ Thủy, mang ý nghĩa gốc là thấm ướt, ẩm ướt, làm cho bớt khô.
润 giản thể của chữ 潤
“Nhuận” có các nghĩa sau:
1. nhuần nhị
2. thấm ướt
3. lời, lãi
- Nhuận tảng tử (潤嗓子) : nhuận họng
Tảng tử (嗓子): cổ họng
Nhuận họng gần nghĩa với nhuận giọng
Vd:
Uống trà cho nhuận giọng (làm ướt cổ họng) trước khi nói
- Nhuận tràng 潤腸 là "làm trơn ráo và ẩm ướt đường ruột", giúp hệ tiêu hóa hoạt động trơn tru
Từ "nhuận tràng" (hoặc nhuận trường) trong chữ Hán được viết là 潤腸 (chữ Phồn thể) hoặc 润肠 (chữ Giản thể).
- “Nhuận” 潤 / 润 :
Có nghĩa là ẩm ướt, làm cho bớt khô, trơn láng hoặc thấm nhuần. Chữ này gồm bộ Thủy (⺡ - nước) đi kèm để chỉ tính chất ẩm ướt, mượt mà.腸 / 肠
- Tràng/Trường 腸 / 肠 Có nghĩa là ruột, bộ phận tiêu hóa. Chữ này gồm bộ Nguyệt (⺼ - biến thể của bộ Nhục, chỉ thịt/bộ phận cơ thể) nằm ở bên.
- Nhuận tràng thông tiện 润肠通便 : Làm trơn ruột, giúp đại tiện dễ dàng.
CHIM TRỜI – Thơ Lê Kim Thượng
1.Đôi ta như cánh chim trờiĐôi chim liền cánh không rời xa nhau…Dừng chân đứng lại bên cầuNhớ nơi lưu giữ tình đầu chứa chanYêu nhau yêu tới vô vànYêu bờ mi khép, yêu làn môi xinhYêu nhau cho cạn lời tìnhNhững ngày hạnh phúc chúng mình chân quêMắt nhìn đăm đắm si mêTôi và em giữa bốn bề tình yêuNụ hôn trong nắng liêu xiêuNgọt ngào thắm thiết với nhiều chút chămƯớc gì “Hạnh phúc trăm năm…”Tình ta như bóng trăng rằm vẹn nguyên
Quên đi cơm áo, gạo tiền
Trái tim son đỏ thề nguyền mãi yêu…
Thứ Bảy, 15 tháng 8, 2026
"NGỰA XE NHƯ NƯỚC ÁO QUẦN NHƯ NEN" - Bài viết của Khánh Ly
“Dập dìu tài tử giai nhân,Ngựa xe như nước, áo quần như nen.”(Truyện Kiều)
Ngựa xe như nước, vốn lấy ý từ thành ngữ Xa thủy mã long, chữ Hán viết 車水馬龍, nghĩa là cảnh phồn hoa xe cộ nối nhau như dòng nước chảy, ngựa đi liên tiếp như rồng uốn lượn. Thành ngữ này xuất phát từ Hậu Hán thư, khi chép về Mã thái hậu thời Hán Chương Đế:
Xa như lưu thủy, mã như du long車如流水,馬如游龍",
Tạm dịch là:
Xe như nước chảy, ngựa như rồng bơi.
Ở câu 47-48 Truyện Kiều, Nguyễn Du viết:
"Dập dìu tài tử giai nhânNgựa xe như nước, áo quần như nen."
"Như nước" thiên về chuyển động liên tục, còn "như nen" nhấn mạnh mật độ dày đặc, che kín không gian. Nhiều bản Kiều ngày nay chép "áo quần như nêm", trong đó bản khảo dị của Nguyễn Quảng Tuân giải thích: "nêm" đây là những mảnh gỗ mỏng đóng trên hai mặt thớt cối xay lúa khít nhau như những hàng răng… Cả câu 48 ý nói ngựa xe qua lại liên tiếp như nước chảy, khách du xuân áo quần đẹp đẽ chen khít nhau như những mảnh nêm ở trên mặt thớt cối xay. Câu này đặt theo lối tiểu đối: "thủy" (danh từ) đối với "nêm" (danh từ).
Thứ Sáu, 14 tháng 8, 2026
ĂN THỊT, UỐNG MÁU CHÚA JESUS !?! – Bài viết của La Thuỵ
Họ ngạc nhiên và trao đổi với nhau, thậm chí viết trên Face: “Tín hữu Công giáo ăn thịt uống máu Chúa, dễ sợ quá!”
Chúa Jesus thường được tuyên xưng là “mục tử nhân lành” (là người chăn chiên hết lòng yêu thương, am hiểu, bảo vệ và sẵn sàng hy sinh mạng sống cho đoàn chiên của mình, trái ngược hoàn toàn với kẻ chăn thuê chỉ vì lợi ích cá nhân mà bỏ chạy khi gặp thú dữ)
Nhưng ít lương dân ngoại giáo biết rằng rằng Chúa Jesus còn có danh hiệu “Chiên Thiên Chúa”.
Chúa Jesus chịu làm của lễ hiến tế giống như con cừu non trong Lễ Vượt Qua để cứu chuộc nhân loại.
SANG THU, ĐÔI MẮT, NGÀY XƯA – Thơ Tịnh Bình
SANG THUNghe mưa gội lá xanh chồiTường vôi bông giấy bồi hồi tuổi thơThương con chuồn ớt thờ ơHam chơi để ướt giấc mơ bờ ràoThị vàng hong nắng cành caoTiếng chim tươi rói tranh nhau quả mềmTrời xanh, xanh đến dịu êmMùa thu ngày ấy giờ tìm chốn nao ?Tên mình ai gọi lao xaoNgân nga chuông gió cồn cào âm xưaSang thu hỏi cúc vàng chưa ?Trong mơ hoa mướp cũng vừa đi xa...
QUÊ CHIỀU – Thơ Lê Kim Thượng
Quê Chiều1.Quê hương xa lắm thân thươngNgười về tìm khúc “… Ầu ơ…”Lời ru xưa cũ, tuổi thơ xa mùLời ru có “…Gió mùa thu…”Võng đưa kẽo kẹt, tiếng ru trong ngầnĐồng chiều vọng tiếng chuông ngânBờ tre nghiêng ngã ngại ngần liêu xiêuNhẹ nhàng trong gió phiêu phiêuSáo ai đổ tiếng, trời chiều đồng khôNghiêng vành nón lá nhấp nhôGiữa làn sóng lúa xanh xô dập dìuHoàng hôn thèm một cánh diềuHãy xin cứ để bóng chiều bay quaCơm chiều mắm muối, dưa càThảo thơm hạt gạo đồng xa ngọt bùi…2.Một đời đi ngược về xuôiCuối đời chỉ thấy ngậm ngùi xót xaKhói sương, sương khói nhạt nhòaMột mình đối bóng, mình ta rối bờiHoang vu khuất nẻo đường đờiNúi rừng xa khuất, chơi vơi thiếu thừa…Nhớ Cha cày cấy ngày mưaÁo tơi của Mẹ sớm trưa trên đồngChợ làng mua bán còn đôngÁo nâu của Mẹ, áo hồng của emCuộc đời điên đảo, đảo điênVề quê tìm lại một miền rong chơi…Mẹ đi ngày ấy xa khơiLòng con nhớ Mẹ… Mẹ ơi… Mẹ hiền…Mẹ đi buông bỏ ưu phiềnVề miền Cực Lạc… Về miền Vãng Sinh…Nha Trang, tháng 08. 2026LÊ KIM THƯỢNG
Chủ Nhật, 9 tháng 8, 2026
THƯ GỞI VỢ CỦA CỐ NHÀ VĂN DUYÊN ANH – Đinh Tiến Luyện, Vũ Phan Anh sưu tầm
Vũ PhanAnh
Nhà mình.. Nửa đêm…
Phượng yêu dấu!
Đêm nay, anh cố ý thức thật khuya để khởi viết cuốn thứ ba trong bộ truyện dài sáu cuốn của anh. Đời anh sẽ chỉ loay hoay ở bộ truyện này. Bởi vì, bộ truyện này anh viết tặng con chúng ta. Bởi vì, khi anh viết bộ truyện này tâm hồn anh không phải là tâm hồn của anh hiện tại, thứ tâm hồn què quặt, xảo trá, thủ đoạn của người sớm bước xuống cuộc đời, sớm biết cuộc đời để sớm ghê tởm cuộc đời. Tâm hồn anh, khi viết truyện tặng con chúng ta là tâm hồn của ngày xưa còn bé. Tâm hồn ấy đã ngập ứ kỷ niệm hoa bướm, trong suốt pha lê. Cho nên, hễ anh viết, ý tưởng từ óc chảy xuống tim chảy ra năm đầu ngón tay anh. Và anh viết rất nắn nót. Viết cả đêm chỉ được ba trang giấy. Như lần khởi sự viết cuốn thứ nhất. Phượng ạ, anh đốt hết nửa gói thuốc lá, uống cạn một chai nước lọc mà vẫn chưa “đẻ” được dòng nào. Thế mới biết thực hiện đúng ý muốn của mình bao giờ cũng khó.
GIANG HỒ LÀ GÌ? – Bài viết của Tiểu Vũ
Những ngày gần đây, những cái tên như Huấn Hoa Hồng, Khánh Sky lại được nhắc nhiều trên mạng xã hội, thường đi kèm một danh xưng đã trở nên quen thuộc: “giang hồ mạng”.
Nhưng nếu trở về với nghĩa gốc của hai chữ “giang hồ”, có lẽ phải đặt một câu hỏi khác: những người được gọi như vậy hôm nay có thật sự xứng đáng với hai chữ “giang hồ”?
“Giang hồ” là một từ Hán - Việt, viết bằng chữ Hán là 江湖. Trong đó, 江 (giang) nghĩa là sông lớn, còn 湖 (hồ) nghĩa là hồ nước. Theo nghĩa gốc, giang hồ là sông và hồ, dùng để chỉ không gian sông nước rộng lớn. Từ hình ảnh địa lý này, về sau “giang hồ” mới được mở rộng thành một khái niệm văn hóa, chỉ thế giới bên ngoài chốn quan trường và đời sống quyền lực.
Thứ Hai, 27 tháng 7, 2026
TÔI ĐÃ BIẾT GÌ VỀ NHẤT LINH - Đông Hồ
(Fb Thú chơi sách)
Anh Nguiễn-Ngu-Í,
Chắc rằng anh muốn hỏi tôi về Nhất-Linh; chớ không hỏi tôi về Nguyễn-Tường-Tam. Có như thế thì tôi mới trả lời anh được. Nói như vậy là tôi muốn nhận định phân minh hai lãnh vực trong một nhân-vật. Là tôi chỉ có biết về nhà văn - sĩ Nhất-Linh mà không được biết về nhà chính trị Nguyễn-Tường-Tam.
Tôi có cảm tình với Nhất - Linh, tôi có yêu mến Nhất-Linh, tôi có phán đoán về Nhất-Linh, là tôi nhìn Nhất-Linh ở trong địa hạt văn chương, vì bút hiệu đó xuất hiện như một ngôi sao chói lọi trên nền trời văn học.
Trừ ra hai tác phẩm đầu tay khi mới tập viết để vấn thế là Nho Phong và Người Quay Tơ, ký tên là Nguyễn-Tường-Tam, còn tất cả tác phẩm năm 1932-1933 trở về sau, đều ký bút hiệu là Nhất-Linh, trong sách cũng như trong báo, từ Phong-hóa Ngày-nay ở Hà-nội cho đến Văn-hóa Ngày-nay, tại Sài-gòn hồi gần đây.
Phán đoán về văn nghiệp Nhất-Linh, tôi có hai nhận định này:
1.- Văn trào phúng của báo Phong-hóa, Ngày-nay.
2.- Văn tiểu thuyết của Tự-lực văn-đoàn.
***
KHI CUỒNG TÍN BIẾN CON NGƯỜI THÀNH DÃ THÚ - Henry Quang Vũ
Lịch sử loài người từng chứng kiến không ít thảm họa
xuất phát từ sự bạo ngược, nhưng hiếm có bi kịch nào đau đớn và ê chề như thời
kỳ "Cách mạng Văn hóa" (1966 – 1976) tại Trung Quốc. Dưới cái mác
"cách mạng" cùng khẩu hiệu "Phá Tứ Cựu" (phá bỏ tư tưởng
cũ, văn hóa cũ, phong tục cũ, tập quán cũ), một thế hệ thanh thiếu niên bị tha
hóa, cuồng tín đã biến thành công cụ trong tay Hồng Vệ Binh. Từ những học sinh,
sinh viên mang tri thức, chúng trở thành lũ "dã thú" nhân danh lý tưởng
để xé rách nền văn minh hàng nghìn năm, chà đạp lên những giá trị nhân bản tối
thiểu nhất của con người: sự tôn trọng đối với người đã khuất.
NGHỀ BIÊN TẬP - Bài viết của Tạ Duy Anh
Những ai từng làm nghề biên tập sách, báo, hoặc có hiểu biết chút ít về nó, sẽ không nỡ để buột ra những lời cay độc, khi nhằm vào các biên tập viên gặp tai nạn. Giờ đây tôi có thể khẳng định nghề biên tập có ba cái nhất hiển nhiên: Chán nhất, hại mắt hại não nhất và nguy hiểm nhất.
Chán vì bản thảo hay hay dở, hấp dẫn hay nhạt nhẽo vẫn cứ phải cắm mặt đọc cho bằng hết.
Hại mắt hại não nhất vì chỉ cần 10 năm đọc biên tập, mắt sẽ giảm thị lực nghiêm trọng bằng 30 năm bình thường, còn não thì rơi vào tình trạng trơ lỳ, mất dần hứng thú và cảm xúc đọc sách, thậm chí sợ đọc sách.
Nguy hiểm nhất vì phạm tội lúc nào không biết.
Tôi chỉ xin kể 5 trường hợp (trong số vài chục trường hợp) nếu tôi lười hoặc thiếu tỉnh táo, tai nạn nghề nghiêm trọng đã úp xuống đầu.
Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2026
MÔ HÌNH ĐẠI HỌC THI TUYỂN VÀ ĐẠI HỌC GHI DANH Ở MIỀN NAM TRƯỚC 1975 – Nguyễn Thy Anh
Nền đại học miền Nam Việt Nam từ 1955 đến 1975 là một mô hình hỗn hợp độc đáo, vừa mang dấu ấn hàn lâm tinh hoa của Pháp, vừa chuyển dần sang mô hình đại chúng thực dụng của Hoa Kỳ. Trong đó, sự tồn tại song song của hai hình thức: đại học thi tuyển và đại học ghi danh đã tạo nên một hệ thống vừa mở rộng cơ hội học tập, vừa đảm bảo chất lượng cho những ngành then chốt.
LỪNG LẪY MỘT THỜI: NGUYỄN TẤT NHIÊN, THI SĨ TÀI HOA BẠC MỆNH – Phạm Chu Sa
Nguyễn Tất Nhiên là một hiện tượng của văn học miền Nam những năm 1970-1975. Tập thơ "Thiên tai" xuất bản năm 1970, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 18 tuổi, với những hình ảnh và ngôn từ khá lạ lẫm.
Ngay lập tức, một số bài trong tập thơ này đã được các nhạc sĩ nổi tiếng phổ nhạc. Nhạc sĩ Nguyễn Đức Quang phổ bài "Vì tôi là linh mục" tuyệt hay:
Riêng nhạc sĩ Phạm Duy đã phổ một loạt thơ Nguyễn Tất Nhiên thành những ca khúc rất được yêu thích.
BÀI THƠ “VIẾNG BẠN” CỦA HOÀNG LỘC ĐÃ TỪNG BỊ PHÊ PHÁN THẾ NÀO - Bảo Thư
“Viếng bạn” được được Hoàng Lộc viết năm 1947 và in trong tập bút ký “Chặt gọng kìm Đường số 4”. Bài thơ viết về sự hy sinh anh dũng của một chiến sĩ tên tên là Th vào ngày 8-1-1948 trong trận Bố Củng. Vì lúc rút lui còn phải khiêng mấy đồng chí bị thương, nên đồng đội đành phải đào một cái huyệt nhỏ để chôn Th. Nhìn thi thể đồng đội không có áo quan, ai cũng khóc.
Năm 1949, tạp chí Văn Nghệ đăng bài thơ này và gây sự xúc động mạnh trong giới văn nghệ sĩ kháng chiến. Cho đến nay "Viếng bạn" được xem là bài thơ hay nhất viết về tình đồng đội, về người liệt sĩ trong kháng chiến.
Tuy nhiên, bài thơ này đã từng bị “đánh” tơi bời trong phong trào “Chỉnh huấn – chỉnh quân” trong thập niên 1950. Tháng 12-1953, trên Nội san Giáo Dục số 12 xuất hiện diễn đàn: “Chúng ta cùng thảo luận”, chủ đề xoay quanh nội dung tư tưởng của bài thơ “Viếng bạn”. Khởi xướng mở diễn đàn thảo luận bài thơ Viếng bạn là Nguyên Chương, một cây bút lý luận phê bình kỳ cựu .
Với tựa đề “Nhân giảng bài Viếng bạn: Đả phá óc mê tín” đăng tạp chí Giáo Dục số 12 năm 1953, tác giả Nguyên Chương đưa ra 3 luận điểm phê bình bài “Viếng bạn”:
1) Bài thơ Viếng bạn cổ súy tư tưởng phong kiến, mê tín, dị đoan, duy tâm thần bí;
2) Nghệ thuật trong bài thơ Viếng bạn là sáo cũ, giả tạo;
3) Ảnh hưởng của bài thơ Viếng bạn đến học sinh là rất xấu.
Để chứng minh “Viếng bạn” là bài thơ “gọi hồn”, mê tín dị đoan, Nguyên Chương thực hiện một cuộc điều tra, khảo sát học sinh tại 3 lớp đã nghe giảng bài thơ Viếng bạn và đặt ra 3 câu hỏi trong cuộc điều tra này là:
- “ Khôn thiêng xin chỉ mặt là thế nào? Có phải linh hồn anh bộ đội chết đó còn sống và khôn thiêng phải không?”
- “ Ai tin rằng sau khi xác thịt chết thì linh hồn còn sống?”
- “ Thế thì em nào sợ ma, tin có ma cứ thành thật cho biết”
Và tác giả dẫn kết quả điều tra như sau:
a) Ở câu hỏi thứ nhất có một số học sinh trả lời “Linh hồn anh bộ đội ấy khôn thiêng, linh hồn anh còn sống”;
b) Ở câu hỏi thứ hai có 28/ 125 em tin là sau khi chết thì linh hồn còn sống;
c) Ở câu hỏi thứ ba có 92/125 học sinh sợ ma.
Đến đây, tác giả bài viết đưa đến kết luận: con em Việt Nam còn mê tín nhiều và cần phải “làm công việc giải độc”. Và việc một tác phẩm như bài thơ Viếng bạn có hiện tượng người sống “đang nói với người chết; hỏi người chết có khôn thiêng thì chỉ mặt kẻ thù” là biểu hiện rõ ràng tư tưởng, tình cảm “phong kiến, duy tâm, thần bí” và “hoen ố màu sắc siêu hình”.
Ở phương diện nghệ thuật, tác giả bài viết cũng phê phán Viếng bạn là bài thơ sáo rỗng, giả tạo. Nguyên Chương dẫn chứng rằng: “Gọi anh chẳng thành lời mà hàm răng dính chặt”. Răng dính chặt thế mà đoạn dưới và đoạn sau anh nói quá nhiều, anh nói rõ ràng lắm. Hình ảnh không thống nhất, ta có cảm tưởng là thơ giả tạo”.
Về hệ quả, tác giả cho rằng bài thơ có ảnh hưởng rất xấu đối với thanh thiếu niên: “con số 92/125 kể trên quả là một thương tâm bắt buộc chúng ta phải thận trọng trong lời nói, trong câu văn. Nếu không đập tan mê tín thì ít nhất đừng gieo rắc mê tín”. Và tác giả cảm thấy “ân hận đã đem bài Viếng bạn giảng cho học sinh trong ngày thương binh- tử sĩ” vì việc giảng dạy bài thơ Viếng bạn không những không đạt được mục đích căm hờn kẻ địch, thương người chiến sĩ hi sinh mà chỉ gieo rắc tư tưởng mê tín dị đoan.
Cuối cùng, tác giả Nguyên Chương đề nghị không dạy bài thơ Viếng bạn cho học sinh vì bài thơ này “đánh thức phần yếu đuối, phản khoa học nép trong tâm não thanh niên”.
Thế đấy, một tác phẩm văn học xúc động như vậy nhưng dưới lăng kính u tối của một số người thì rất có thể đây là bài thơ “có vấn đề” chỉ bởi tác phẩm đó được viết theo cách thể hiện khác.
Tự nhiên tôi rón rén đi trên băng mỏng của đại dương chữ nghĩa
Bảo Thư












