CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phanxipăng. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Phanxipăng. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Tư, 15 tháng 3, 2023

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 12) VÀI BẢN DỊCH BÀI THƠ “Ở ĐÂY THÔN VỸ DẠ” – Phanxipăng


Chân dung Hàn Mạc Tử do Trần Đình Thụy vẽ, đã in bìa tạp chí Văn số 73 -74 (Sài Gòn, 7-1-1967) & số 179 (Sài Gòn, 1-6-1971)

Nguyên tác:
 
Ở ĐÂY THÔN VỸ GIẠ
 
Sao anh không về chơi thôn Vỹ
Nhìn nắng hàng cau, nắng mới lên
Vườn ai mướt quá xanh như ngọc
Lá trúc che ngang mặt chữ điền.
 
Gió theo lối gió, mây đường mây
Giòng nước buồn thiu, hoa bắp lay
Thuyền ai đậu bến sông trăng đó
Có chở trăng về kịp tối nay?
 
Mơ khách đường xa, khách đường xa
Áo em trắng quá, nhìn không ra
Ở đây sương khói mờ nhân ảnh
Ai biết tình ai có đậm đà?!
 
Ghi theo thủ bút năm 1939 của HÀN MẠC TỬ
 
Bài thơ “Ở đây thôn Vỹ Dạ” được in đúng nhan đề cùng bài thơ “Ghen” của Hàn trên tờ Đông Á Tân Văn 2 (Sài Gòn, 19-10-1940). Ảnh: Vũ Hà Tuệ

Chủ Nhật, 12 tháng 3, 2023

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 10): TIÊN NỮ VU SƠN - Phanxipăng

                                                   Kỳ 10


Ấy là điển cố mà Hàn Mạc Tử dùng trong bài thư Thắm thiết viết về Mai Đình:
 
... Đây Mai Đình, tiên nữ ở Vu Sơn
Đem mộng xuống gieo vào muôn sóng mắt
Nàng! Ôm nàng! Hai tay tra ghì chặt
Cả bài thơ êm mát lạ lùng thay!
Ta là người uống muôn hận sầu cay
Nàng là mật của muôn tuần trăng mật
Ôi khoái chá thấm dần vô the chất
Hồn trong xương, ảnh hưởng đến mê tơi!
Quý như vàng, trọng như ngọc trên đời
Mai! Mai! Mai! Là Nguyệt Nga tái thế...

 

   
                          Mai Đình tức Lê Thị Mai (1917 – 1999)

Mai Đình có họ tên thật là Lê Thị Mai, sinh năm Đinh Tỵ 1917 (cùng tuổi với Mộng Cầm) tại quê nhà - xã Hoàng Giang, huyện Nông Cống, tỉnh Thanh Hoá - trong một gia đình quan lại. Nàng còn có một bút danh khác là Ngọc Mai. Trần Thanh Mại qua chuyên luận Hàn Mạc Tử (sđd), đã ghi nhận: “Mai có học, viết quốc ngữ thông, nói tiếng Pháp được, làm thơ hay, có nhiều bài đăng báo”.
 

Thứ Năm, 9 tháng 3, 2023

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 9): MỘNG CẦM - NGÀY ẤY, BÂY GIỜ - Phanxipăng

                                                    Kỳ 9
Mộng Cầm & Phanxipăng tại Phan Thiết đầu Xuân Tân Tị 2001. Ảnh: Võ Nguyên

Với Hàn Mạc Tử, có thể nói Hoàng Hoa là mối tình đơn phương thì Mộng Cầm là tình yêu “có qua có lại... nhưng chưa toại lòng nhau”. Trong hồi ký Hàn Mạc Tử anh tôi (tlđd, tr. 32-33), Thiện Nam Nguyễn Bá Tín viết:

“Mối tình giữa hai người [Hàn và Mộng] đã có một thời sôi nổi trong giới văn nghệ sĩ, họ bàn tán thêu dệt theo cảm ý hay suy đoán của mỗi người. (...) Chưa ai biết rõ mối tình đó ra sao cả. Gia đình chị [Mộng Cầm] cũng không hề hé răng tiết lộ, dù là để thanh minh”.

Thực tế, chính Mộng Cầm từng mấy lần trả lời phỏng vấn báo chí quanh mối tình lãng mạn của mình. Trên báo nguyệt san Phổ thông số 63 bộ mới (Sài Gòn, 15-8-1961), nhà văn Châu Hải Kỳ đã ghi lại lời Mộng Cầm:

“Năm ấy tôi 17 tuổi, học lớp nhất [tương đương lớp 5 bây giờ] trường Nam Phan Thiết. Tuy mới chỉ học lớp nhất, nhưng tôi rất ham văn chương. (...) Những bài thơ tôi làm ra toàn những bài thơ Đường luật, tôi đăng báo Công Luận trong Nam. Một hôm đến trường, tôi tiếp một bức thư do nhà dây thép [bưu điện] đưa lại. Đó là bức thư đầu tiên Hàn Mạc Tử gửi cho tôi. Trong thư, Hàn Mạc Tử tỏ ý cốt tìm cho biết để giao thiệp trau luyện văn thơ. Tôi có gặp trên báo tên Hàn Mạc Tử đôi lần, nhưng không biết Hàn Mạc Tử là ai, và cũng không biết bằng cách nào, Hàn Mạc Tử biết được địa chỉ của tôi. Vì lúc này, theo như bức thư gửi cho tôi, Hàn Mạc Tử đang làm Sở Đạc điền ở Quy Nhơn. Tôi bận học thi tiểu học, cho nên một tháng sau tôi mới trả lời. Bắt đầu từ đó, chúng tôi thường có thư từ đi lại với nhau (...). Chúng tôi giao thiệp như thế được chừng năm, sáu tháng thì tôi phải về Quảng Ngãi. Cuộc giao thiệp gián đoạn. Về Quảng Ngãi, tôi gặp một người bạn học cũ mới hay chính chị bạn tôi đã quen với Hàn Mạc Tử, đã giới thiệu tôi với Hàn và cho Hàn địa chỉ. Chị cũng cho biết Hàn Mạc Tử mới thôi làm Sở đạc điền, vào Sài Gòn viết giúp các báo Sài Gòn mới [?] và Phụ nữ tân văn. Ở Quảng Ngãi mấy tháng, tôi vào Phan Thiết. Tôi ra Mũi Né học “cô đỡ” [hộ sinh] với cậu tôi là ông L.Q.T. [Lê Quang Thuần, hiệu Tùng Khuê]. Tình cờ, đọc Sài Gòn Mới, cậu tôi thấy Hàn Mạc Tử nhắn trong mục thư tín: “Chị Mộng Cầm ở đâu, cho biết địa chỉ...”. Ông mới hỏi tôi: “Hàn Mạc Tử là ai mà cứ nhắn hỏi cháu hoài, sao cháu không trả lời?”. Tôi kể câu chuyện quen biết trong mục trau luyện văn chương cho cậu tôi nghe. Cậu tôi cho phép, tôi viết thư cho Hàn Mạc Tử. Thư từ đi lại mật thiết trong mấy tháng thì một chiều thứ bảy nọ, vào khoảng tháng tư, tháng năm, Hàn Mạc Tử ra Phan Thiết. Anh mướn tàu đi Mũi Né tìm đến bệnh xá. Tôi đang làm thuốc cho bệnh nhân, ông phu [y công] vào đưa cho tôi tấm danh thiếp trên có đề mấy hàng: HÀN MẠC TỬ - Chef Corcle d’Etude - Quynhon [?]. (...) Tôi đi ra thì thấy một thanh niên mặc âu phục xoàng xĩnh đang đứng ở cửa bệnh xá. Sau khi chào hỏi, tôi mời vào nhà, giới thiệu với cậu T. Cậu để cho chúng tôi tiếp chuyện tự nhiên. Kể ra, vào thời nam nữ cách biệt mà được như vậy cũng đã là tự do lắm. Hàn Mạc Tử xin cậu tôi, sẵn có đò, cho phép tôi đi Phan Thiết chơi, luôn tiện nhờ tôi giới thiệu với Bích Khê [họ tên thật là Lê Quang Lương, em út của Lê Quang Thuần và là cậu ruột của Mộng Cầm] mà anh hằng ao ước tìm gặp. Cậu tôi bằng lòng. Và tối hôm đó, chúng tôi xuôi đò về Phan Thiết. Gặp hôm có trăng, nhưng chúng tôi không ngồi trên mui thuyền để ngắm sông nước mà ngồi trên khoang để nói chuyện. Hàn Mạc Tử không đẹp, nhưng nhỏ nhẹ, dễ thương. Hồi này anh mới 24 tuổi [vào năm 1936], song trông người anh yểu tưởng, tôi in trí thế nào anh cũng không thọ. Nhờ ngọn đèn sáng dưới đó, tôi đã ngờ ngay từ hôm đó là anh có bịnh phung, hai trái tai anh hơi đỏ đỏ mà dày dày. Vì có học ở nhà thương nên tôi biết triệu chứng. Tuy vậy, tôi chưa dám chắc. (...) Đò đến Phan Thiết, tôi đưa Hàn Mạc Tử đến trường Hồng Đức [nay là nhà số 28 đường Trưng Trắc, phường Đức Nghĩa, bên bờ sông Cà Ty], cậu Bích Khê tôi dạy tại đây. Ở đó suốt buổi sáng chủ nhật, chiều lại, anh đáp chuyến tàu suốt về Sài Gòn. Sau ngày ấy, cậu Bích Khê bảo tôi ra dạy ở trường Hồng Đức. Vì lẽ đó mà Hàn Mạc Tử ra vào thường, thứ bảy nào anh cũng có mặt tại Phan Thiết, chiều chủ nhật lại vào. Một dịp thứ bảy đi chợ lầu ông Hoàng, anh thổ lộ mối tình với tôi. Tôi trả lời anh: “Chắc rằng không thể đến chỗ làm bạn trăn năm được, tôi nói trước để anh đừng hy vọng”. Anh hỏi lý do. Tôi viện lẽ tôn giáo khác nhau. Nhưng thật ra vì biết Hàn Mạc Tử mắc bệnh hiểm nghèo, không thể sống lâu được [?]. Ý tôi muốn một người chồng đẹp đẽ, tráng kiện... Tuy vậy, chúng tôi vẫn giao thiệp thân mật hai năm như thế. Trong thời gian này, có nhiều bức thư anh đề cập đến vấn đề hôn nhân. Tôi luôn luôn nguỵ biện để từ chối...”
 
Nhà văn Châu Hải Kỳ ngắt lời bằng câu hỏi:
“Bà không muốn đến hôn nhân, nhưng đối với Hàn Mạc Tử, có lúc nào bà cảm thấy yêu không? Và trong những cuộc tình giao du thân mật đã có lần nào thi sĩ tỏ thái độ suồng sã với bà chưa?”

Mộng Cầm đáp:
“Chúng tôi rất mến nhau. Nhưng đó là mối tình văn thơ. Còn xác thịt hoàn toàn không nghĩ tới. Cha mẹ đã cho giao thiệp tự do, chúng tôi phải giữ gìn cho xứng đáng. Vả lại, lúc bấy giờ, tôi tuy đã lớn tuổi, nhưng vẫn còn khờ lắm...”.
 
Trong cuốn Hàn Mạc Tử - Hương thơm và Mật đắng (sđd, tr. 124-125), Trần Thị Huyền Trang nêu ý kiến cùng chứng cứ:
 
“Câu trả lời của Mộng Cầm khiến nhiều người có ý nghĩ: bà phủ nhận tình yêu của mình đối với Hàn Mạc Tử. Chính vì thế mà một lần thi sĩ Quách Tấn hỏi nhà thơ Bích Khê: “Mộng Cầm có yêu Hàn Mạc Tử thật sự chăng?”. Bích Khê trả lời: “Không yêu mà chiều thứ bảy nào, Tử cũng ra Phan Thiết để cùng Mộng Cầm đi chơi với nhau cho đến chiều chủ nhật hôm sau mới vào Sài Gòn. Hai bên giao tiếp thân mật với nhau ngót hai năm trời mà nếu không yêu nhau thì chỉ có gỗ đá!”. (...) Việc Mộng Cầm đi lấy chồng sau khi Hàn Mạc Tử ngã bệnh bị Bích Khê kịch liệt lên án. Thi sĩ Quách Tấn quan niệm việc Mộng Cầm đi lấy chồng là lẽ tất nhiên và nàng không đáng trách. Cái đáng trách của Mộng Cầm, theo ông, là ở chỗ từ chối một sự thật của lòng mình. Đây là lời thi sĩ Quách Tấn nói với một người bạn: “Tôi đã từng đọc thư Mộng Cầm gửi cho Tử. Nếu anh được xem bức thư nàng gửi cho Tử năm 1936 lúc anh Mộng Châu bị tai nạn mất ở Phú Yên, chỉ xem một bức thư ấy thôi, thì anh cũng có thể đo được mức thiết tha của tình yêu đôi bên... Thôi nàng đã có chồng rồi, nhắc lại không hay ho gì”.
 
Bức thư ấy vốn đã được Trần Thanh Mại công bố từ năm 1942 trong chuyên luận Hàn Mạc Tử (sđd) với nguyên cả đoạn như sau:
 
“Lệ Thanh [một bút danh của Hàn] anh ơi! Em không thể ra tận ngoài ấy để đưa linh cữu (ông anh cả) về nơi an nghỉ cuối cùng. Vậy anh cho phép em thành tâm cư tang cho ông anh một năm cũng như anh, nghe anh. Ở trên mấy từng mây, vong linh của ông anh cả nếu có linh thiêng, nên nhận người đang cầm bút biên mấy hàng trên đây là người em dâu chắc chắn, nhất định của ông anh rồi. Vậy ông anh nên phù hộ cho chúng em thương nhau cho đến bạc đầu...”
 
Nếu xét kỹ lời Mộng Cầm thuật với nhà văn Châu Hải Kỳ, bạn đọc hẳn thấy người thục nữ sanh giữa thời vô thượng vì những lý do tế nhị nên lúc đó không khẳng định thẳng thắn các câu hỏi của người phỏng vấn, song cũng chẳng phủ nhận hoàn toàn nghĩa cũ tình xưa. Còn bây giờ, có lẽ thời gian và hoàn cảnh đủ cho phép người trong cuộc thoải mái “bật mí” nhiều điều? Nghĩ vậy nên chúng tôi tìm về Phan Thiết để tìm gặp Mộng Cầm vào đầu Xuân Tân Tỵ 2001, nhờ sự dẫn đường của nhà giáo Nguyễn Hùng Việt - con rể bà.
 
Nhà của Mộng Cầm Huỳnh Thị Nghệ ở xã Phong Nẫm, ngoại thành Phan Thiết. (2001). Ảnh: Phanxipăng

Tại nhà riêng ở thôn Xuân Phong, xã Phong Nẫm, ngoại thành Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận, bà Mộng Cầm tỏ vẻ rất niềm nở khi tiếp chúng tôi. Bà nói rất rành mạch:

- Tôi sinh ngày 17-7-1917 ngoài Nghệ An, nhưng quê quán Quảng Ngãi. Tính ra đã 84 tuổi rồi. Tuy vậy, chỉ khó khăn việc di chuyển, đi đứng phải chống gậy, phải nhờ người dìu, chứ tôi ăn ngủ vẫn khoẻ, đọc viết vẫn tốt, trí óc vẫn minh mẫn. Mộng Cầm là bút hiệu mà nhà thơ Bích Khê, cậu Chín của tôi, đặt cho tôi hồi tôi tập tễnh làm thơ đăng báo. Họ tên thật của tôi là Huỳnh Thị Nghệ, chứ đâu phải Lê Thị Nghệ như có sách đã viết sai [chuyên luận Hành trang cho thơ và sự trở lại chính mình của Hàn Mạc Tử của Vũ Hải - sđd, tr.115]. Ngoại tôi mới họ Lê. Bên nội tôi họ Huỳnh. Cha tôi là Thị độc học sĩ Huỳnh Quang Lâm đó...
 
Nhắc đến mối quan hệ với Hàn, bà cười:
- Có những chi tiết, sách báo lâu nay viết chưa đúng hoặc chưa đủ. Mà thôi, nào có hề gì! Chỉ tiếc những kỷ vật của Hàn đều mất sạch vì thời cuộc, dù tôi cố giữ kỹ. Đó là toàn bộ thư từ Hàn đã gửi cho tôi, gồm 41 lá cả thảy. Thư nào anh cũng kèm theo 1 -2 bài thơ. Nhiều bài nay tôi vẫn thuộc lòng. Đó là còn tập thơ Gái quê của Hàn in năm 1936, có chữ anh đề tặng tôi. Nhớ khi tập Gái quê mới in xong, tôi đang về Quảng Ngãi, anh từ Quy Nhơn đem ra mấy chục quyển, nhờ tôi bán giùm. Giá bìa tập thơ đề “3 cắc 6”, tôi chào bán 3 cắc rưỡi, cho mau. Biết chuyện, Hàn cười: “Anh bán thơ chứ đâu bán giấy!”
 
Chúng tôi hỏi về bức thư Mộng gửi Hàn năm 1936 mà Trần Thanh Mại từng trích dẫn thì bà gật đầu thừa nhận và tiếp:
- Yêu nhau, lứa đôi nào cũng muốn nên chồng nên vợ. Nhưng trong đời, đâu phải ai cũng “muốn là được”.
 
Được biết, bà Mộng Cầm trải qua hai đời chồng. Người chồng đầu là ông Nguyễn Thới, nhà giáo có với bà 3 mặt con (2 trai, 1 gái, con trai cả là Nguyễn Đình Thiết sinh năm 1938). Chồng đầu mất, bà tái giá với ông Hồ Lộng Địch, nhà sản xuất và kinh doanh, sinh được 4 người con (3 gái, 1 trai).
 
Trước lúc chia tay chúng tôi, bà chép tặng bài thơ Chan chứa của bà như khẳng định mối tình Hàn - Mộng:
 
Cả năm chỉ có một lần xuân
Nhưng với lòng em xuân mỗi tuần
Thơ thấm tâm hồn hoa nở nhuỵ
Cạn dòng tâm sự được bao lần.

Em cứ tưởng rằng em với anh
Như hình với bóng dưới màn đêm
Hoàng hôn đã khóc niềm chung thuỷ
Đau đớn tình anh khăng khít thêm
 
Cho nên không thể nói không yêu
Mà nói rằng yêu, yêu rất nhiều
Trời đất ngập tràn thơ vĩnh biệt
Lòng em chan chứa biết bao nhiêu.
                                MỘNG CẦM
 
Tham quan những thắng tích ở Phan Thiết như Mũi Né, lầu ông Hoàng, chùa Ông, Bia Đài - Những điểm xưa kia Hàn và Mộng từng lưu dấu, chúng tôi sực nhớ hình ảnh so sánh do nhà thơ Chế Lan Viên đưa ra khi đề cập về những mối tình của Hàn:

“Người này cho anh ân nghĩa, người kia cho anh vết thương, và chính từ vết thương mà con trai đáy bể làm ra viên ngọc”
(trích lời tựa tuyển tập Thơ Hàn Mạc Tử do Sở Văn hoá - Thông tin Nghĩa Bình xuất bản năm 1987). Bao chuỗi - ngọc - thơ lấp lánh của Hàn đã kết tinh từ vết - thương - tình mang tên Mộng Cầm:
 
Họ đã xa rồi khôn níu lại
Lòng thương chưa đã, mến chưa bưa
Người đi một nửa hồn tôi mất
Một nửa hồn tôi hoá dại khờ
                   (Những giọt lệ)

Mộng Cầm Huỳnh Thị Nghệ từ trần tại nhà riêng ở Phan Thiết, Bình Thuận, lúc 21 giờ rưỡi ngày 23-7-2007 nhằm mùng 10 tháng 6 năm Đinh Hợi, thọ 90 tuổi. 

                                                                                       Phanxipăng
*
Nguồn:
https://www.thivien.net/B%C3%AD-m%E1%BA%ADt-H%C3%A0n-M%E1%BA%A1c-T%E1%BB%AD/a-reply-mz8hO4-xm_bQYO5dbc_rLg

Thứ Ba, 7 tháng 3, 2023

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 8): BÀI THƠ “Ở ĐÂY THÔN VỸ DẠ” ”... - Phanxipăng

                                                             Kỳ 8: 

Hoàng Thị Kim Cúc (1913 – 1989) do Đình Phương vẽ. Ảnh: Phanxipăng

Năm 1992, ba cuộc hội thảo lớn được tổ chức ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh nhằm nhìn lại và đánh giá 60 năm phong trào Thơ Mới. Ban tổ chức đã đề nghị các nhà thơ, nhà nghiên cứu - lý luận - phê bình bỏ phiếu chọn những bài Thơ Mới hay nhất. Kết quả cuối cùng: Ở đây thôn Vỹ Dạ của Hàn lọt vào “top 18”. Quanh bài thơ nổi tiếng này, lâu nay rộ lên nhiều cuộc tranh luận sôi nổi - nhất là từ khi tác phẩm được Bộ Giáo dục và Đào tạo quyết định đưa vào giảng dạy chính thức trong chương trình lớp 11 bậc THPT. 

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 7 ): “SỰ THẬT TỪ MỐI TÌNH HOÀNG HOA”... - Phanxipăng


Năm 1933, Hoàng Thị Kim Cúc tròn đôi mươi

 
Kỳ 7: SỰ THẬT TỪ MỐI TÌNH HOÀNG HOA...
 
Kỳ trước, chúng tôi có nhắc qua “cái thuở ban đầu lưu luyến ấy” của mối tình đầu mà Hàn Mạc Tử dành cho cô gái Huế họ Hoàng. Đó là vào năm 1933, giai đoạn chàng đang làm thầy ký đạc điền ở phố biển Quy Nhơn. Trong Đôi nét về Hàn Mạc Tử (tlđd), Quách Tấn ghi nhận: “Khi Tử làm sở đạc điền Quy Nhơn, Tử có yêu một tiếu nữ ở cùng một con đường - đường Khải Định - biệt hiệu là Hoàng Cúc”.

Thứ Bảy, 7 tháng 1, 2023

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 5) - Phanxipăng

                     Kỳ 5: THÁNG NĂM HÀNH NGHỀ “NÓI LÁO”
 
Chân dung nhà thơ, nhà báo Hàn Mạc Tử.
Tranh acrylic: Nguyễn Hồng Lam

 Dân gian thường bỡn cợt: “Nghề báo nói láo ăn tiền”. Ấy thế mà trước nay khá đông người rất thèm lao vào cái nghề gọi là “nói láo”, để rồi ngẫm ra rằng “làm báo khó thay!”. Trong số này có thầy đạc điền Nguyễn Trọng Trí tức Hàn Mạc Tử.

Thứ Bảy, 10 tháng 12, 2022

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 4) - Phanxipăng

                                   Kỳ 4: THẦY KÝ QUÈN


“Mất cơ hội đi Pháp, mộng viễn du không thành, (...) anh trở về Quy Nhơn sống với gia đình, rồi tiếp tục làm thơ viết báo. Bạn bè ngày càng kết giao nhiều, xa cũng như gần, nhờ tiếng tăm anh được Mộng Du thi xã nhắc đến trang trọng...”. Đó là hồi ức của ông Nguyễn Bá Tín về anh ruột mình - nhà thơ Hàn Mặc Tử - in trong Hàn Mặc Tử trong riêng tư (tr.30). Thời điểm này năm 1932, kinh tế Đông Dương gặp cơn khủng hoảng, cả nhà Hàn chỉ một mình trưởng nam Nguyễn Bá Nhân “chèo chống” nên không tránh khỏi khó khăn. Hàn tính chuyện đi làm để giảm bớt gánh nặng cho gia đình. Lúc ấy, ở Quy Nhơn, người gốc Huế định cư khá đông, trong số đó có thầu khoán Đỗ Phong. Ông Phong giới thiệu Hàn một chân tập sự tại Phòng Địa chính Quy Nhơn trực thuộc Sở Địa chính tỉnh Bình Định - dân gian bấy giờ vẫn quen gọi là Sở Đạc điền. Hàn được phân công làm thư ký công nhật ở bộ phận bảo tồn điền trạch. Theo ông Tín, đấy là “cái việc dễ nhất, nhàn nhất và...ít tiền nhất là ngồi biên chép các tờ trích lục đã cũ, lãnh lương về chỉ đủ anh trả tiền mua báo, mua giấy và tem thư” (sđđ, tr. 31). Văn phòng làm việc mà gian nhà mà ngày nay đã trở thành tịnh xá Ngọc Nhuận, số 54 đường Ngô Quyền, Quy Nhơn.
 
Phòng Địa chính Quy Nhơn, nơi Hàn làm việc một thời, nay là tịnh xá Ngọc Nhuận. Ảnh: Trần Hoa Khá

Thù lao nhận theo chế độ “khoán sản phẩm”, song công việc lúc có lúc không nên đương nhiên thừa thì giờ mà thiếu... tiền bạc. Dẫu sao, cũng là viên chức nhà nước, Hàn vẫn được gọi thầy kí đạc điền!
 

Thứ Năm, 1 tháng 12, 2022

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 3) - Phanxipăng


 
Kỳ 3: THỜI HỌC SINH GẬP GHỀNH THƠ MỘNG

Thời học sinh của Hàn Mạc Tử trải qua 3 địa phương: Quảng Ngãi, Quy Nhơn, Huế. “Lần đầu tiên Nguyễn Trọng Trí cắp sách đến trường là tại Quảng Ngãi”. Trần Thanh Mại, tác giả cuốn Hàn Mạc Tử, đã ghi nhận như vậy. Ông Bá Tín, qua hồi kí Hàn Mạc Tử anh tôi, còn kể chi tiết hơn:
 
“Chúng tôi rời Đồng Hới năm 1921, theo cha vào Quy Nhơn, trở ra Bồng Sơn, lại trở về Quy Nhơn năm 1924 thì đổi ra Sa Kỳ, một sở thương chánh lớn, cách thị xã Quảng Ngãi 12 km [thực địa thì hơn 20 km - chú thích trong móc vuông là của Phanxipăng]. Trong thời gian gia đình hay đổi dời dọc theo các cửa biển, việc học hành của chúng tôi đã bị gián đoạn. Về Quảng Ngãi mới vào học trường công lập anh Trí học lớp ba, tôi học lớp tư [tương đương lớp 2 bây giờ]. Khi còn ở Quy Nhơn, anh rất thích bắn ná cao su và bắn rất hay.(...). Trong những năm học ở Quảng Ngãi, anh không thèm bắn ná cao su nữa, mà lại rất thích bắn súng. Hai anh em ở trọ nhà dượng tôi, trong nhà cũng có một khẩu Flaubert, thứ súng bắn chim như của cha tôi. Anh trông thấy thèm lắm, nhưng không dám hỏi. Vì vậy, cứ thứ năm, chủ nhật, là kéo tôi cùng về Sa Kỳ, để cha tôi phát cho mỗi đứa 3 viên đạn, mà phải đi bộ 12km, phải qua một chuyến đò, băng qua một động cát dưới trời nắng chang chang. (...). Về sau, bài văn xuôi Chơi giữa mùa trăng, anh viết về chợ Chua Me [dân quanh vùng vẫn gọi Châu Me], là động cát này. Địa phương gọi là động, một vùng rộng lớn, cát trắng phau, thứ cát ánh ngời như mảnh pha lê vụn, trải dài 4 - 5km bên bờ đại dương (...). Sau khi cha tôi mất đi, tháng 7-1926, gia đình tôi dọn về Quy Nhơn ở với anh Mộng Châu. Hai chúng tôi cùng vào học trường trung Quy Nhơn [Collège de Quinhon, thành lập 1921, thực tế gồm cả tiểu và trung học, tên tiếng Việt bấy giờ là Cao đẳng tiểu học Quy Nhơn, sau thành Quốc học - Quy Nhơn, nay là trường THCS Lê Hồng Phong]. Đến lớp nhất [tương đương lớp 5 bây giờ], anh Trí ra Huế học Pellerin” (trích cảo bản đánh máy, tr. 6-8).
 

Thứ Năm, 17 tháng 11, 2022

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 2) - Phanxipăng



 Kỳ 2: NGUYỄN TRỌNG TRÍ PHẢI CHĂNG GỐC HỌ...NGUYỄN?

Vấn đề gia thế của Hàn Mạc Tử cũng tồn tại lắm ly kỳ, uẩn khúc, không dễ gì tỏ tường sớm một chiều!
 
Hàn thi sĩ có họ tên thật là Nguyễn Trọng Trí, sinh ngày 22 - 9 - 1912 tại làng Lệ Mỹ, tổng Võ Xá, huyện Phong Lộc, tỉnh Quảng Bình; nay là phường Đồng Mỹ, thị xã Đồng Hới, Quảng Bình; trong một gia đình Kitô giáo. Thân phụ của nhà thơ là ông Nguyễn Văn Toản, bấy giờ làm công chức ngạch thông Phán (cardre secondaire) ở đấy nên thường được mọi người gọi là “thầy thông Toản” hoặc “thầy Toản”. Thân mẫu là Nguyễn Thị Duy, một phụ nữ Huế, con gái thứ 9 của ngự y Nguyễn Long, người gốc Trà Kiệu (Quảng Nam) và ở Vạn Xuân - vùng đất thuộc mạn bắc sông Hương, nằm cạnh kinh thành Huế.
 

Thứ Ba, 1 tháng 11, 2022

BÍ MẬT HÀN MẠC TỬ (KỲ 1) - Phanxipăng

 
 
“Tôi làm thơ? Nghĩa là tôi yếu đuối quá! Tôi bị cám dỗ, tôi bị phản bội lại tất cả những gì mà lòng tôi, máu tôi, hồn tôi đều hết sức giữ bí mật.”
                                                                             HÀN MẠC TỬ
                                                                        (Tựa Thơ điên, 1938)
 
Trong văn học Việt Nam hiện đại, Hàn Mạc Tử (1912 - 1940) là một tác giả được tôn sùng, hâm mộ. Năm 1942, nhà phê bình Vũ Ngọc Phan nhận xét: “Từ ngày Hàn Mạc Tử trừ trần đến nay, mới khoảng hai năm trời mà người ta đã nói rất nhiều và viết nhiều về Hàn Mạc Tử”. Còn tính tới lần giỗ thứ 60 của thi sĩ vào cuối thế kỷ 20 này, hàng nghìn cuốn sách và bài báo trong lẫn ngoài nước đã đề cập đến tài năng yểu mệnh ấy. Riêng các tác phẩm của Hàn Mạc Tử không những được chọn đưa vào chương trình giảng dạy ở nhà trường, mà còn liên tục được ấn hành và... bán chạy. Thế nhưng, vì lắm lý do, cuộc đời và sự nghiệp sáng tác của Hàn Mạc Tử vẫn tồn tại hàng loạt “bí mật”, khiêu gợi trí tò mò đối với chúng ta. Thời gian qua, nhờ sự nổ lực tìm kiếm của một số người yêu quý nhà thơ qúa vãng, bao điều “bí mật” kia dần dần được “bật mí”. Bằng khối lượng tư liệu thu thập từ nhiều nguồn, loạt bài này hy vọng sẽ cung cấp những thông tin mà bạn đọc chưa có thể nắm được đầy đủ. TGM cộng tác viên gần xa góp phần bổ sung, hiệu đính bằng những chứng cứ xác tín về Hàn Mạc Tử để chúng ta hiểu rõ hơn, đúng hơn thân thế và sự nghiệp của một tài hoa đất Việt.
 
Kỳ 1: CHÍNH DANH ĐỊNH LUẬN: MẠC HAY MẶC?
 
Bấy lâu, phần lớn sách báo - Trong đó có giáo khoa trung học và giáo trình đại học - đều ghi bút danh chính Nguyễn Trọng Trí là Hàn Mặc Tử. Cạnh đấy, một vài tư liệu lại đề: Hàn Mạc Tử (không có dấu ﮞ). Vậy nên thống nhất cách viết, cách đọc bút danh/ bút hiệu của nhà thơ sao cho chuẩn xác?
 
Về vấn đề này, thiết tưởng cần tuyệt đối tôn trọng ý muốn của chính bản thân tác giả. Sinh thời, Nguyễn Trọng Trí tự chọn bút danh thế nào thì chúng ta hãy giữ nguyên thế ấy.
 

Thứ Bảy, 28 tháng 3, 2020

HOÀNG THỊ NGÀY XƯA, NGÀY NAY - Phanxipăng

Nguồn:   
http://chimvie3.free.fr/48/phanxipn_HoangThiXuaNay.htm
           
Bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị của thi sĩ Phạm Thiên Thư  được nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành bài hát cùng nhan đề vào năm 1971,  được nhiều ca sĩ lần lượt thể hiện, tạo sức lan toả sâu rộng.  Cũng từ đó, đề cập đến nữ nhân vật trong tác phẩm Ngày xưa Hoàng Thị, vì lắm lý do, có những ngộ nhận đã xảy ra khá nực cười

   
                     Thi sĩ Phạm Thiên Thư. Ảnh: Phanxipăng


       THƠ BAY BẰNG CÁNH NHẠC

Phạm Thiên Thư có họ tên Phạm Kim Long, chào đời năm Canh Thìn 1940 tại Hải Phòng trong một gia đình Đông y mà cha gốc Thái Bình, mẹ gốc Bắc Ninh. Giai đoạn 1943 - 1951, Phạm Thiên Thư sống ở Hải Dương, rồi theo gia đình vào Nam, cư ngụ tại Sài Gòn từ năm 1954. Lớp đệ tam (tương đương lớp 10 hiện thời), Phạm Thiên Thư học trường Trung học tư thục Văn Lang ở khu Tân Định, quận 1, chung lớp với một nữ sinh gốc Hải Dương là Hoàng Thị Ngọ tuổi Nhâm Ngọ 1942. Phạm Thiên Thư kể:
- Hoàng Thị Ngọ dáng người thanh mảnh, tóc thả ngang vai. Xếp hàng vào lớp, nàng đứng đầu hàng nữ, tôi đứng cuối hàng nam. Vào lớp, nàng ngồi bàn đầu, tôi ngồi bàn cuối. Ngọ học giỏi, còn tôi thì giỏi... đánh lộn. Thế mà tôi yêu nàng. Yêu đơn phương. Nhà tôi ở đường Trần Khát Chân. Nhà Ngọ ở đường Trần Quang Khải. Mỗi lần tan trường, nàng ôm cặp đi bộ về nhà, tôi cứ lẽo đẽo theo sau.
Phạm Thiên Thư thi đỗ tú tài bán phần (1) rồi trở thành sinh viên phân khoa Phật học thuộc Viện Đại học Vạn Hạnh (2). Từ năm 1964, Phạm Thiên Thư trở thành tu sĩ Phật giáo với pháp hiệu Thích Tuệ Không, trải qua các chùa Kỳ Quang(3), Từ Vân (4), Vạn Thọ(5). Mặc dầu ăn chay và khoác nâu sồng, những mỗi lần đi về khu Tân Định, Phạm Thiên Thư lại bâng khuâng luyến nhớ mối tình đơn phương thuở học trò. Xúc cảm, Phạm Thiên Thư sáng tác bài thơ Ngày xưa Hoàng Thị, âu yếm gọi rõ tên nàng trong khung cảnh mây đỏ, cây đỏ, hoa đỏ, bụi đỏ:

Em tan trường về                                                          
Cuối đường mây đỏ                               
Anh tìm theo Ngọ                               
Dáng lau lách buồn                               
(...)                              
Mười năm rồi Ngọ                              
Tình cờ qua đây                              
Cây xưa vẫn gầy                              
Phơi nghiêng dáng đỏ