CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Trọng Nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Lê Trọng Nghĩa. Hiển thị tất cả bài đăng

Thứ Sáu, 8 tháng 8, 2025

“NGẢ” VÀ “NGÔ - Lê Trọng Nghĩa


Hình ảnh: Hiểu Nghi

Khi nói về đường đi, ta thường dễ bị nhầm giữa hai từ: “ngả”“ngã”. Ví dụ: “mỗi người mỗi ngả” và “mỗi người mỗi ngã”, đâu là cách dùng chính xác?

Để làm rõ điều này, chúng tôi xin được dẫn cách giải thích của từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên. Tư liệu này có giảng: “Ngả (danh từ): Đường đi theo một hướng nào đó, phân biệt với những đường đi theo hướng khác. Tới đây đường chia làm hai ngả. Mỗi người đi một ngả… Ngã…: Chỗ có nhiều ngả đường, ngả sông toả đi các hướng khác nhau. Ngã năm. Ngã ba sông”

Như vậy “ngã” (thường phải kèm theo số) là từ để chỉ chỗ giao nhau của nhiều con đường, con sông,… còn “ngả” là một nhánh đường, nhánh sông của “ngã”.

Hiểu như thế, ta có thể thấy “mỗi người mỗi ngả” mới là cách dùng đúng chứ không phải “mỗi người mỗi ngã”, vì đây là cụm từ biểu diễn việc nhiều người vốn ở cùng một nơi nhưng lại chia tay để đi về nhiều hướng. Vậy còn “ngả rẽ” và “ngã rẽ” thì sao? Căn cứ vào định nghĩa của từ điển tiếng Việt ở trên thì “ngả rẽ” và “ngã rẽ” đều có thể được chấp nhận, nhưng hai từ này có nghĩa hoàn toàn khác nhau. “Ngã rẽ” là chỗ giao nhau của nhiều nhánh đường, nhánh sông (như ngã ba, ngã tư), còn “ngả rẽ” là một trong những nhánh đường, nhánh sông đó.

Tới đây cách dùng “ngả”“ngã” đã rõ. Nhưng sẽ thú vị hơn nếu ta biết được rằng liên quan tới đường đi, ngày trước chỉ có “ngả” chứ không có “ngã”. Thật vậy, Đại Nam Quốc Âm Tự Vị của Huỳnh Tịnh Của xuất bản vào cuối thế kỷ 19 có giảng: “Ngả: Nhánh đàng đi, chỉ về phía nào, ngõ nào. Ngả nào: đường nào. Ngả ba: Chỗ đường phân ra làm ba”. 
Việt Nam tự điển của Hội Khai Trí Tiến Đức xuất bản năm 1931 cũng đồng tình: “Ngả: Nẻo, phía. Đi ngả nào. Ngả ba: chỗ đầu ba con đường giao với nhau”. Trong hai tư liệu này ta không thấy có nghĩa nào của “ngã” liên quan đến đường đi cả.

Như vậy có thể thấy ban đầu chỉ có “ngả” để chỉ chung cả các nhánh đường, nhánh sông và chỗ giao nhau giữa chúng. Sau này phần vì lưu truyền tam sao thất bản, phần vì để đọc cho thuận miệng nên người ta mới có thêm từ “ngã” biến âm của “ngả” và bắt đầu sử dụng cách phân biệt như từ điển tiếng Việt do Hoàng Phê chủ biên trình bày.

                                                                                    Lê Trọng Nghĩa

Thứ Năm, 24 tháng 7, 2025

NGUỒN GỐC TÊN GỌI BÁNH GA TÔ - Lê Trọng Nghĩa, Tiếng Việt giàu đẹp

Trong những dịp sinh nhật, ta thường thấy sự xuất hiện của chiếc bánh ga tô. Tuy phổ biến là thế nhưng không phải ai cũng hiểu rõ nguồn gốc tên gọi loại bánh này.
 

Thực tế, “ga tô" là một từ gốc Pháp, phiên âm của chữ gâteau, tức “bánh ngọt". Thật vậy, Tầm nguyên tự điển Việt Nam của Giáo sư Lê Ngọc Trụ có giảng: “Ga tô (tiếng Pháp: gâteau): Bánh nướng làm bằng bột mì, trứng, bơ, đường, sữa, vani…”. Từ điển từ vay mượn trong tiếng Việt hiện đại của Tiến sĩ Trần Thanh Ái cũng giải thích: “Ga tô (Pháp: gâteau): bánh ngọt”. Như vậy, tên “ga tô" vốn xuất phát từ cách người Pháp gọi loại bánh này.

Thứ Năm, 3 tháng 7, 2025

“KHOAN DUNG” VÀ “VỊ THA” - Lê Trọng Nghĩa, Tiếng Việt giàu đẹp


Hình ảnh: Hiểu Nghi

“Khoan dung” và “vị tha” là hai từ thường đi chung với nhau và vì vậy hay bị hiểu lầm là hai từ đồng nghĩa. Sự hiểu lầm này đôi khi còn đến từ việc đánh đồng “tha” trong “vị tha” với “tha” trong “thứ tha”. Nhưng thực tế có phải như vậy không? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu trong bài viết lần này.

Về “khoan dung” và “vị tha”, Từ điển tiếng Việt của Viện Ngôn ngữ học giảng như sau:

“Khoan dung (động từ): Rộng lượng tha thứ cho người có lỗi lầm. Cảm hoá bằng sự khoan dung. Tấm lòng khoan dung”.

“Vị tha (tính từ): Có tinh thần chăm lo một cách vô tư đến lợi ích của người khác, có thể vì người khác mà hi sinh lợi ích của cá nhân mình. Lòng vị tha. Chủ nghĩa vị tha”.

Thực tế, cả “khoan dung” và “vị tha” đều là từ Hán Việt. “Khoan dung” vốn được viết bằng Hán tự là 宽容, trong đó “khoan” () có nghĩa là “rộng rãi”, còn “dung” () có nghĩa là “chứa, đựng” (chính là “dung” trong “dung tích”, “dung chứa”…). Vậy “khoan dung” hiểu thuần ra là “có sức chứa lớn”, từ đó mới có nghĩa bóng “rộng lượng tha thứ lỗi lầm”. Còn “vị tha” vốn được viết bằng hai chữ Hán 爲他 trong đó “vị” () là “vì”, “bởi vì” còn “tha” () có nghĩa là “khác, việc khác”. “Vị tha” như thế được hiểu thuần là “vì người khác”.

Như vậy, “vị tha” là “sống vì người khác” (trái với “vị kỷ” - sống chỉ vì bản thân mình), chứ không liên quan gì đến “khoan dung”, vốn là “rộng lượng tha thứ lỗi lầm”, dù đôi khi việc rộng lượng thứ tha cũng phảng phất nét nghĩa “vì người khác”.

                                                                                  Lê Trọng Nghĩa