CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Ba, 25 tháng 8, 2026

VỤ ÁN “VỀ KINH BẮC” (1982–1985) (KỲ 2) – Bài viết của Hoàng Hưng


Ảnh: từ trái qua phải: Hoàng Hưng, Dương Tường, Nguyễn Xuân Khánh, Châu Diên tại Bờ Hồ Hà Nội những năm 2000

Lần này vào Sài Gòn, tôi đã chọn một hành trình mới: từ Hà Nội xuống Hải Phòng để đáp tàu thuỷ vào (đường thuỷ ven biển Hải Phòng-Sài Gòn mới có được ít lâu). Người giúp tôi mua vé tàu là hoạ sĩ Thọ Vân, phụ trách Mỹ thuật của Hội Văn nghệ Hải Phòng, bạn thân nhất của tôi trong 8 năm tôi sống ở thành phố này. Anh là một người tự học, rất ham học. Tôi đã dịch cho anh cả loạt sách hội hoạ tiếng Pháp anh mua ở cửa hàng sách ngoại văn. Trước ngày tàu khởi hành ít bữa, tôi đã chở sẵn hàng hoá mới mua (trong đó có bộ Bách khoa toàn thư Larousse) xuống nhà anh để sẵn. Khi tôi bị bắt, công an xuống Hải Phòng thu giữ hết đồ đạc của tôi và không bao giờ trả lại, mặc dù sau khi ra tù, tôi đã có đơn đề nghị trả! Đơn không có hồi âm, như xử sự thường lệ của các cơ quan công quyền đối với công dân! Mãi sau này, tôi mới biết khi vụ án đã xong, đến thời hạn “thanh lý”, họ đã đem bán tất cả “tang vật vụ án”, kể cả “tang vật chủ yếu” là tập thơ VKB mà Hoàng Cầm chép tặng tôi, số tiền bán được không biết vào công quĩ hay túi riêng của ai?

Bản chép tay Về Kinh Bắc mà Hoàng Cầm chép cho tôi rất đẹp, trang đầu ghi rõ: “Chép gửi Hoàng Hưng, cho mai sau của chúng ta”. Sau khi nhận được bản chép tay thơ, tranh bìa của Văn Cao, 4 bức phụ bản của Bùi Xuân Phái, tôi tổ chức một buổi “ăn mừng” trên gác xép nhà ông Trần Thiếu Bảo. Bữa ăn trưa có Hoàng Cầm, Văn Cao, Bùi Xuân Phái, Trần Thiếu Bảo, Phan Tại. Buổi ấy cũng coi như khai trương quán ăn của ông Bảo, mà đầu bếp là Phan Tại, nhà viết kịch, một trong 5 người bị ra toà và lãnh án tù trong vụ Nhân Văn-Giai Phẩm (ông bị 6 năm tù). Trần Thiếu Bảo đã viết-vẽ tay một tờ menu rất đẹp các món ăn hôm ấy!

Trong bữa ăn vui vẻ tình cảm dạt dào giữa những người cùng tâm sự, ông Bảo khoe mọi người hai cái “bìa” cho tập VKB và tập thơ của tôi mà ông trình bày theo lối cắt-dán (collage) siêu thực (Trước đó ít lâu, tôi có khoe một tập bản thảo thơ “chui” của mình cho một số bạn văn nghệ ở Hà Nội, trong đó có Nguyễn Thuỵ Kha, Kha đã chép lại nhiều bài trong đó. Ông Bảo xin mượn ít hôm).
Sau liên hoan, ông Bảo đề nghị tôi cho ông mượn tiếp tập ấy cùng với tập VKB vừa mới hoàn thành.
Mấy ngày trước ngày lên đường về lại SG, tôi quá bận, chủ yếu bận “gom hàng”, nên định để đúng ngày đi mới đến ông Bảo lấy lại 2 tập thơ. Ông Bảo sốt ruột, ngày nào cũng đến nhà chị tôi để “nhắc” tôi tới lấy! (Sau khi bị bắt, tôi mới hiểu vì sao? Hoá ra ông đã bị công an khống chế từ bao giờ, phải làm “chỉ điểm” bất đắc dĩ! Công an đã được ông báo cáo ngay từ hôm tôi đến nhờ mua giấy, bút để anh Hoàng Cầm chép VKB! Nếu vì lý do gì đó tôi không tới lấy tập thơ đem vào SG, thì… vụ án sẽ xẹp như bong bóng xì hơi!).

Đầu giờ chiều 17/8/1982, sau khi sắp xếp xong hành lý để đi chuyến tàu tối xuống Hải Phòng và sáng hôm sau đi tàu biển vào Sài Gòn, tôi đến nhà Trần Thiếu Bảo lấy lại 2 tập thơ. Vào trong quán, tôi thấy hai người đàn ông đang ngồi uống nước. Sau vào trại giam đi “cung” mới biết đó là ông Khổng Minh Dụ, Trưởng phòng An ninh Văn hoá Cục An ninh Tư tưởng Văn hoá gọi tắt là A25 (sau này ông sẽ là Thiếu tướng Cục trưởng và cũng là “nhà thơ”), và anh Hoàng Phước Thuận, trợ lý của ông (sau này sẽ là Trung tướng Cục trưởng Cục An ninh mạng). Tôi cứ hồn nhiên cầm tập thơ đi ra.

Một chi tiết đáng lưu ý: khi ra cửa, tôi thấy nhà nhiếp ảnh Hà Tường (người chuyên chụp chân dung các văn nghệ sĩ Hà Nội) đứng sẵn gần đấy, anh đề nghị tôi cho anh chụp một tấm hình! Sau này, có dư luận anh cũng bị buộc phải “hợp tác” với an ninh!

Lên xe đạp đi được một đoạn, bỗng có hai anh thanh niên đèo nhau xe gắn máy ép tôi vào lề đường. Hai anh nhảy xuống, giữ tôi lại, bảo: “Cái xe đạp anh đang đi là xe của chúng tôi bị mất cắp”. Tôi kinh ngạc, vì tôi đang đi chiếc xe của bà chị ruột. Đang cãi qua cãi lại, thì một công an mặc sắc phục ở đâu tiến tới, nói: “Các anh lộn xộn gì thế, mời về đồn giải quyết”. Đồn CA gần đấy là đồn Hàng Bạc. Vào trong đồn, anh CA xưng là đồn trưởng, yêu cầu tôi bỏ hết các thứ trong túi xách ra. Thấy tập bản thảo của Hoàng Cầm, anh ta hỏi: “Cái gì thế này? Thơ à? Thơ của ai đây?”. Tôi đáp: “Của Hoàng Cầm.” “Hoàng Cầm là ai? Anh ngồi đây đợi, cái này tôi phải xin ý kiến cấp trên”. Tôi ngu đến mức vẫn chưa biết đây chỉ là một màn bi hài kịch dàn dựng sẵn.

Sau khoảng 20 phút chờ đợi, anh đồn trưởng bước vào, bảo: “Đây là ý kiến cấp trên”. Anh giở ra một tờ giấy, đọc: “Lệnh bắt và khám xét khẩn cấp” vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động”. Thế là nhanh như cắt, hai anh thanh niên “mất xe đạp” lúc nãy hiện nguyên hình là CA, áp giải tôi lên xe bịt bùng, đưa về… Hoả Lò!

Sau khi ra tù, tôi mới biết hồi đó dư luận râm ran về vụ án này. Thông tin truyền đi sai lạc lung tung, như cho rằng tôi bị bắt khi đang chuyển tập bản thảo VKB vào Sứ quán Pháp. Trong hồi ký của nhà nghiên cứu văn học Nguyễn Đăng Mạnh, có đoạn nói chính Hoàng Cầm kể cho ông: ông đã nghe lời Hoàng Hưng gửi VKB sang Pháp in!!! Trong tuyển tập “Black Dog, Black Night, Contemporary Vietnamese Poetry” (Chó đen, đêm đen –Thơ Việt Nam đương đại) xuất bản ở Mỹ năm 2008, người viết lời giới thiệu phần thơ của tôi là nhà thơ Paul Hoover cũng viết như thế! Và mãi cho đến nay, vẫn có một số nhà văn Việt Nam viết trên Facebook như thế!!!
Thậm chí còn có “phiên bản” tôi bị bắt vì… mang thuốc phiện lậu! Nhà văn Nguyễn Xuân Nghĩa, một cựu tù nhân lương tâm ở Hải Phòng thì kể rằng: có người nói với Hội Văn nghệ Hải Phòng là Hoàng Hưng bị bắt vì… ăn cắp xe đạp, và nhiều người tin sái cổ!!!
Sau này, Phó TBT báo Lao Động là nhà báo Trần Đức Chính còn nói có một bài báo trên báo Công an (?) mang tên: “Vụ án hai ông Hoàng” với nhiều tình tiết li kỳ (và chắc là không ít thêu dệt, bịa đặt).
LÝ DO BỊ BẮT KHÔNG NGỜ NHƯNG NGUYÊN NHÂN SÂU XA THÌ CÓ!
(“Hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật”)

Khi nghe đồn trưởng công an Hàng Bạc đọc lệnh “Bắt và khám xét khẩn cấp” vì tội “lưu truyền văn hoá phẩm phản động” là bản thảo tập thơ VKB mà nhà thơ Hoàng Cầm chép tặng, tôi hết sức bất ngờ! Vì ông đã từng chép tặng nó cho hàng trăm người trước tôi! Vì tôi với ông chưa có quan hệ gì thân thiết ngoài vài lần giao hảo!

Nhưng trong quá trình hỏi cung kéo dài hơn một năm rưỡi ở Hoả Lò rồi Trung tâm Thẩm vấn của Bộ Nội vụ – tiền thân của Bộ Công an, bí danh B14 (ở Thanh Liệt, Thanh Trì, Hà Nội), tôi nhận ra chân lý trong câu thơ Nguyễn Trãi: “hoạ phúc hữu môi phi nhất nhật” (hoạ hay phúc đến không phải từ một ngày)!

Nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc tôi bị bắt và “tập trung cải tạo” từ ngày 17 tháng 8 năm 1982 đến 30 tháng 10 năm 1985 chính là là “sự suy thoái tư tưởng, lối sống” như kết luận của ông Nguyễn Trọng Liễu, Cục trưởng An ninh Điều tra Xã hội Bộ Nội vụ trong thông báo ngày 23/1/1984 gửi cho Tổng biên tập báo Người Gíao Viên Nhân Dân của tôi:
“… biến chất, sống không có lý tưởng, lao vào con đường buôn bán kiếm lời, sa đoạ về sinh hoạt, không còn phẩm chất của người cán bộ” (trích thông báo).
(Khi tôi về thăm cơ quan Báo sau “Đổi mới”, khoảng 1998, bạn đồng nghiệp đồng lứa Nguyễn Ngọc Chụ, Tổng Biên tập mới của báo đã cho tôi bản sao của Thông báo ấy).
Song, muốn hiểu tận gốc quá trình “biến chất” ấy, phải truy nguyên lịch sử gia tộc và bản thân tôi từ rất xa xôi.

Xin tóm tắt như sau:

Tôi xuất thân trong một gia đình trí thức Tây học nổi tiếng ở Hà Nội.
Ông nội là Tổng đốc Bắc Giang (Hoàng Thuỵ Chi), cuối đời làm việc ở Phủ Thống sứ Bắc Kỳ (hình như phụ trách Phòng Xuất bản báo chí). Nhưng quan trọng hơn, Cụ là nhà nho lớp cuối (cử nhân trẻ tuổi nhất của kỳ thi Hương cuối cùng năm 1900, tác giả nhiều công trình nghiên cứu Hán-Nôm với bút hiệu Tạ Ngọc hiện được lưu trữ trong thư viện Viện Hán Nôm), bắt đầu chuyển sang Tây học (Cụ đã ở trong phái đoàn quan lại Việt Nam sang thăm nước Pháp từ năm 1906, đã dịch truyện ngụ ngôn Ésope sang tiếng Việt thành “Y Sách ngụ ngôn” đăng trên tập san Tứ Dân Văn Uyển của Toà Tu Thư Phủ Thống sứ Bắc Kỳ năm 1936).
Bố tôi, Hoàng Thuỵ Ba, là 1 trong 2 bác sĩ đầu tiên (cùng với ông Đặng Vũ Lạc) của trường Y Đông Dương (l’École de Médecine de l’Indochine) mà 2 năm cuối phải sang Pháp học Khoa Y, Viện Đại học Paris (Académie de Paris) để lấy bằng Docteur en Médecine (năm 1928) của Bộ Giáo dục nước Cộng hoà Pháp.

Từ những năm tiểu học (thời chính quyền Quốc gia) cho đến hết phổ thông cấp 3 (thời “nhà trường xã hội chủ nghĩa”), ngoài những giờ Pháp văn ở trường, tôi đã được bố cho học tiếng Pháp với các thầy, cô giáo dạy tư, và đã có 1 năm học trường Tây (Lycée Honoré de Balzac ở phố Hàng Bông Thợ Nhuộm). Hơn thế, vì sớm mê văn chương thơ phú, tôi đã mày mò tra từ điển để dịch những tiểu thuyết trinh thám tiếng Pháp trong tủ sách của bố. Tôi đã dịch những bài thơ tiếng Pháp đầu tiên ngay trong giờ học tiếng Pháp hồi lớp Nhất (cuối cấp tiểu học) từ cuốn sách giáo khoa Le livre unique de Français.
 
Những dịch phẩm từ tiếng Pháp đầu tiên của tôi đăng trên tạp chí Trăm Hoa của nhà thơ Nguyễn Bính từ năm tôi học Đệ Lục (lớp 6-7 bây giờ)! Trong những năm học ở trường cấp 3 (Việt-Đức), tôi được bố cho đi học tiếng Pháp với cô Đỗ Thị Xuân (học cùng với Tôn Thất Triêm, bạn học cùng lớp với tôi, là con trai của bác sĩ nhãn khoa Tôn Thất Hoạt và luật gia kiêm pianist Vũ Thị Hiển, bạn của bố tôi. Sau này Triêm là pianist nổi tiếng). Cô là sinh viên của nhà tâm lý học hàng đầu thế kỷ là Jean Piaget (Thuỵ Sĩ), sau khi tốt nghiệp Cử nhân cô đã tình nguyện về xây dựng đất nước, làm việc ở Viện Tâm lý Giáo dục; cô đi dạy kèm tiếng Pháp, tiếng Anh để đủ sống.
Vì thế, khi lớn lên, là một trong số những nhà thơ trẻ nổi bật của “thế hệ chống Mỹ” (như Xuân Quỳnh, Bằng Việt, Lưu Quang Vũ, Vũ Quần Phương…), được giải thưởng Thơ của báo Văn Nghệ từ năm 1965 (bài “Gửi anh”), nằm trong số khoảng 10 người làm thơ trẻ được in tập thơ tại Nhà xuất bản Văn Học (tập “Đất nắng” in chung với Trang Nghị, năm 1970), nhưng vì “trót” đọc được tiếng Pháp, nên khác hẳn các nhà văn nhà thơ cùng thế hệ, tôi sớm giác ngộ về “Chủ nghĩa xã hội với bộ mặt người” qua những sách báo tiếng Pháp ở ngay trong Thư viện Quốc gia (Nhà nước cho rằng rất ít người biết tiếng Pháp nên không kiểm duyệt bỏ những ấn phẩm tiếng Pháp “nhạy cảm” được nhập vào đó theo con đường viện trợ, trao đổi). Đó là thuyết “chủ nghĩa hiện thực không bờ bến” (Réalisme sans rivage) của Roger Garaudy, một nhà lãnh đạo Đảng Cộng sản Pháp, những tư tưởng “xét lại” của George Lukács, nhà lãnh đạo Cộng sản Hungary, tiểu thuyết Docteur Jivago của nhà văn Liên Xô Boris Pasternak, các tài liệu về Đại hội Đảng Cộng sản Liên Xô lần thứ XX, về những biến động ở Hungary, Tiệp Khắc… Những sách vở ấy cộng với thực tế nhiều phũ phàng mà tôi va chạm trong mấy năm dạy học và “đi thực tế sáng tác” ở vùng công nghiệp Hải Phòng, Quảng Ninh, cộng với sự đổ vỡ niềm tin chiến thắng sau Tết Mậu Thân và cái chết của Cụ Hồ, lãnh tụ Đảng duy nhất mà tôi kính yêu thực lòng, cũng như cái chết của người em cùng cha khác mẹ với tôi là Hoàng Thuỵ Lạng trên đường hành quân vào Nam, khiến tôi ngày càng hoài nghi sự đúng đắn của con đường “tiến lên chủ nghĩa xã hội” mà chế độ đang theo.

Tôi bắt đầu làm những bài thơ “ngoài luồng” để trong sổ tay kể từ cái năm 1969 đáng ghi nhớ đó.
Sự hoài nghi, khắc khoải, vỡ mộng đã hiện lên mồn một trong nhiều bài thơ:

“Vụt đứng dậy! Bồn chồn, kinh hãi
Sáng mau đi, đá sập đến nơi rồi!”
(Tỉnh giấc ở Hòn Gai, 1969)

“Biển những ngày hè đẹp lắm
Ngày nào tìm biển ta say…
Nhưng mùa hạ đã ra đi
Chân trời xa không ngấn nắng
Sao em còn mang áo mỏng
Có còn mùa hạ nữa đâu
Sao em làm lòng anh đau
Nhớ ngọn lửa hè đã tắt…”
(Đường phố hôm nay mùa đông, 1969)

Và nhất là trong nhiều đoạn văn vần ghi trong nhật ký, chưa dám đọc cho ai nghe:

… Các anh bảo chúng tôi
Đi chiến đấu cho ngày mai tươi đẹp
Chúng tôi đi
Vì không sợ chết
Chúng tôi chết
Vì sợ sống hèn
Nhưng sẽ ra sao cái ngày mai ấy?
… Chúng tôi đấy
Đều ngoan ngoãn cả
Anh vừa lòng chứ ạ?
Vâng, chúng tôi cứ khoanh tay nhắm mắt ngồi nhìn
Sự nặng nề ngu độn của các anh
Cứ chầm chậm dìm con tàu xuống biển
… Họ tháo cho ta cánh tay xiềng xích
Rồi đem xiềng xiềng chặt óc tim ta
… Bạn ơi! Hãy xé tan những lá cờ như vải liệm đời ta
Hãy lật đổ
Những thần tượng ta xiết bao yêu quí

Trích thông báo của Cục trưởng An ninh Điều tra Xét hỏi: 
“Từ khi còn là giáo viên cấp 3 ở Hải Phòng, anh Hoàng Thuỵ Hưng  [tên khai sinh đầu tiên của tôi] đã quan hệ với một số phần tử bất mãn có tư tưởng chống đối đường lối chính trị và văn nghệ của Đảng. Do đó về tư tưởng chính trị anh Hưng cũng bị ảnh hưởng nên đã làm những bài thơ có nội dung thể hiện tư tưởng hoài nghi sự lãnh đạo của Đảng, đả kích cán bộ lãnh đạo và đã đem trao đổi phổ biến với một số người có tư tưởng bất mãn chống đối khác”.

Nhận định này sai ở 2 điểm:

Một là tôi chẳng có quan hệ với “phần tử bất mãn, chống đối” nào! Trong thực tế, như trên đã nói, tư tưởng hoài nghi con đường xã hội chủ nghĩa và sự lãnh đạo của Đảng hoàn toàn chỉ do những sách báo tiếng Pháp tôi đọc, thực tế xã hội mà tôi đã chứng kiến, và thực trạng ở nhà trường tôi dạy, khi các Bí thư chi bộ Đảng trường cấp 3 An Dương của tôi đều là giáo viên cấp 2, cấp 1 dạy Chính trị có trình độ văn hoá rất thấp nên không “lãnh đạo” được ai! Cũng cần ghi nhận là họ là những người tử tế, rất yêu quí và trọng thị cá nhân tôi – một giáo viên giỏi chuyên môn và nhiệt tình với mọi công việc của nhà trường. Tôi đã được đưa vào diện chuẩn bị kết nạp Đảng, nhưng tôi không hề muốn! Khi Bí thư Chi bộ kiêm Hiệu trưởng tên Ngô Duy Hàn về Hà Nội thẩm tra lý lịch để kết nạp, không biết làm sao để “thoát nạn”, tôi bèn bỏ trường đi chơi suốt một tuần lễ, một hành động vô kỷ luật không thể hình dung ở một giáo viên luôn nhiệt tình và trách nhiệm như tôi! Khi tôi trở về, Chi bộ chỉ thị cho Chi đoàn thanh niên giáo viên họp kiểm điểm. Nhưng khi tôi bước vào phòng họp, tất cả phá lên cười, vì… ai cũng thừa biết lý do thật sự của hành động vô kỷ luật “đột xuất” ấy! Thế là tan buổi “kiểm điểm”!

Hai là tôi chưa hề “trao đổi phổ biến” những bài thơ “hoài nghi… đả kích” ghi trong nhật ký với ai hết!
Nói về “quan hệ”, thì chỉ sau khi về Hà Nội làm báo năm 1973, tôi mới thân thiết với một số nhà văn nhà thơ tạm gọi là “bàng thống” (không chính thống). Đúng ra thì ngay từ cuối năm 1969, khi đã viết một số bài thơ “ngoài luồng” không thể công bố, tôi đã từ Hải Phòng về Hà Nội, tìm đến làm quen với nhạc sĩ-nhà thơ-hoạ sĩ Văn Cao (một trong những nhân vật hàng đầu của phong trào Nhân Văn-Giai Phẩm) thông qua dịch giả Dương Tường. Chính Văn Cao là người đã khuyến khích tôi tiếp tục lối thơ mà anh gọi là “bàng thống” (đối lập với “chính thống”), sau khi nghe tôi đọc 2 bài “Mưa rào và trẻ nhỏ” và “Người yêu miệt biển”. Còn nhớ mãi câu anh nói: “Thơ phải bàng thống mới hay” (Để ghi nhớ kỷ niệm ấy, khi in tập thơ “Ngựa biển” ở Nhà xuất bản Trẻ năm 1988, tôi ghi dòng chữ “Tặng anh Văn Cao” dưới đầu đề bài “Mưa rào và trẻ nhỏ”).
 
MƯA RÀO VÀ TRẺ NHỎ
(Tặng anh Văn Cao)

Phút chốc mặt đường rửa sạch
Và bị trẻ con chiếm lĩnh.
Từ các nhà, các ngõ ùa ra
Trận mưa thứ hai
Mát tươi đường phố
Trần truồng, đen nhãy
Các em chạy nhảy lăn bò
Không còn bóng người lớn,
Không còn vết bánh xe bụi bặm bước chân chen chúc.
Chỉ các em với trận mưa to
Hứng thẳng nước tự trời cao mà gội những mái đầu hoang dại
Tiếng các em la hét và tiếng mưa như trống như chuông
Mưa lặng bất ngờ như mưa sa
Các em cũng biến đi tất cả
Trả lại mặt đường cho những người hối hả đua chen.
Và bây giờ thân mình nhỏ nhắn của các em
Đang lặng lẽ bốc hơi từ những góc nào kín đáo
                                               Hải Phòng 1969
 
Sau khi tôi chuyển từ nghề dạy học ở Hải Phòng về làm báo của Bộ Giáo dục ở thủ đô (1973), tôi thường đến thăm anh. Anh ngày càng thân thiết với tôi, và đã đứng chủ trì buổi tiếp bạn bè văn nghệ tại nhà tôi trong ngày cưới của vợ chồng tôi đầu năm 1975 (trong buổi ấy, có màn “nhảy đầm” có lẽ chưa từng có ở miền Bắc từ thời chiến tranh Bắc-Nam; căn phòng nhà tôi rộng tới 60m2 có thể làm sàn nhảy).
Dịch giả-nhà thơ Dương Tường là một cây bút có quan hệ mật thiết với các nhà thơ có khuynh hướng cách tân trong nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm: Văn Cao, Trần Dần, Đặng Đình Hưng, Lê Đạt, Hoàng Cầm. Anh chủ trương lối thơ “con âm”, thi pháp “âm bồi”, nằm trong xu hướng thơ “dòng chữ” (nhấn mạnh việc sáng tạo ngôn ngữ hơn là diễn nghĩa, tải ý). Bạn bè thường dẫn câu thơ của anh nhưng đùa đùa sửa một chữ để cho rõ tinh thần “con âm”:

“Những ngón tay mưa/ Dương cầm trên mái” 
thành 
“Những ngón tay mưa/ Dương Tường trên mái”. 

Thời đó, anh được biết đến như là dịch giả của những tiểu thuyết dịch từ tiếng Pháp, tiếng Anh, chứ thơ của anh chỉ lưu chuyển cho một số người bạn tâm huyết thưởng thức.
Dương Tường có nhiều tình nghĩa với tôi. Anh là người đã nhường cho tôi dịch thuê những tài liệu tiếng Anh đầu tiên, và mất công sửa be bét bản dịch của một người mới tự học tiếng Anh là tôi! Anh đã đi nhờ người chụp ảnh đám cưới cho tôi vào đầu năm 1975 (người nhận giúp là An Kiều con trai hoạ sĩ Nam Sơn, anh đã chụp ảnh miễn phí cho đám cưới của tôi). Chính trong buổi từ nhà An Kiều về mà Dương Tường gặp trời mưa, mắt kính cận dày cộp của anh bị mờ, anh đâm xe đạp vào ô tô bị thương, nên không đến dự đám cưới được!
Anh thân thiết hơn cả là với những cây bút bị coi là mang tư tưởng “xét lại”, các anh làm thành “bộ tứ”: Dương Tường, Châu Diên, Nguyễn Xuân Khánh (“ba chàng ngự lâm” Hà Nội), và Bùi Ngọc Tấn ở Hải Phòng (mới được về sau 5 năm tù). Từ Dương Tường, tôi trở nên thân thiết với Châu Diên, hay đến chơi với anh ở khu nhà tập thể trong trường Chu Văn An và anh Nguyễn Xuân Khánh ở ven con lạch đen hôi thối trong xóm Thanh Nhàn.

Châu Diên tên thật là Phạm Toàn, nhà giáo (về cuối đời nổi tiếng là nhà giáo dục sáng lập nhóm viết sách giáo khoa cách tân Cánh Buồm mà tôi tham dự và gắn bó cho đến nay). Sau vài truyện ngắn đầu tiên nổi tiếng trên văn đàn chính thống, anh bắt đầu lặng lẽ viết những truyện không thể công bố. Ấn tượng về một trong những truyện ngắn ấy ám ảnh tôi rất lâu dài. Truyện “Trứng” kể về những đứa trẻ bắt được ổ trứng chim, mang về ấp iu chăm sóc, cho đến ngày nở ra… bày rắn! Một ẩn dụ xã hội không thể rõ ràng hơn: đó là tâm trạng vỡ mộng (illusions perdues) của lứa thanh niên yêu nước chống Pháp và mê mẩn lý tưởng xã chủ nghĩa!

Nguyễn Xuân Khánh, nhà báo, cũng như trường hợp Châu Diên. Sau khi nghỉ hưu sớm, anh lặng lẽ viết tiểu thuyết, cuốn “ghê gớm” nhất là “Trư cuồng” (Porcinomanie) anh vừa viết xong (năm 1982) mà tôi được đọc trước ngày bị bắt, nói lên cuộc sống u ám của người trí thức trong một xã hội tha hoá vì miếng cơm manh áo và bị kiểm soát tư tưởng.

Thời đó, cũng như phần lớn viên chức lương thiện, các anh sống một cuộc đời hết sức vất vả. Cả nhà Châu Diên ngoài giờ đi làm đi học là chúi mũi vào dán hộp giấy “gia công” lấy vài xu lẻ, Nguyễn Xuân Khánh thì nuôi lợn (từ thực tế ấy anh viết nên “Trư cuồng”), Dương Tường thì dịch thuê và… bán máu!
  
Đúng là trong thế hệ làm văn-thơ trẻ ở miền Bắc thời ấy, chắc chỉ có tôi “dám” quan hệ với những tên tuổi “đen” của nhóm Nhân Văn-Giai Phẩm và “xám” (liên quan ít nhiều đến nhóm “Xét lại chống Đảng”) như kể trên!
 
Cũng trong thời gian này, tôi giao du mật thiết với vài bạn văn chương có xu hướng tìm tòi những gì khác lạ: Trúc Thông (thơ), Trí Dũng (thơ), Lê Huy Quang (thơ), Nhật Tuấn (văn). Chúng tôi thường tụ họp ở nhà Nhật Tuấn (một căn phòng nhỏ xíu ở phía sau căn nhà ngõ Ấu Triệu, sát chuồng xí!). Lý do là Nhật Tuấn có cô vợ bán thịt quốc doanh ở chợ Cửa Nam, nên có thể cung cấp bộ lòng lợn (ngoài tiêu chuẩn tem phiếu, đó là “đặc quyền” của các nhân viên bán hàng) cho bạn bè của chồng nhậu nhẹt! Bọn tôi ăn uống, đọc thơ, văn, rồi những đêm hè thì rủ nhau ra thềm Nhà Thờ Lớn tán chuyện hay ra các chiếu “tẩm quất” của người mù ở góc Phan Bội Châu-Hai Bà Trưng!
 
Trong số bạn văn thơ này, đặc biệt có Lê Huy Quang, nghề chính là hoạ sĩ trang trí của đoàn Tuồng, nhưng mê thơ và ảnh hưởng nặng lối thơ “bàng thống” Hậu-Nhân Văn (nhất là Trần Dần, Đặng Đình Hưng…) và chỉ làm thơ “ngoài luồng” với “phương châm: Cứ Em mà giã”! Anh còn tham gia (hay quan hệ chặt chẽ) với nhóm văn nghệ mang tên “Chân đất” vốn là đối tượng theo dõi và khống chế của an ninh văn hoá Hà Nội. Tôi không chịu ảnh hưởng của Quang về thơ, nhưng lại chịu về lối sống “nghệ sĩ” buông thả, thật hấp dẫn với một thầy giáo vừa “tháo giày”, “mất dạy” nhiều năm buộc phải nền nếp, giữ gìn! Anh đã cho tôi niềm hứng khởi với những chén rượu lạc rang, chén chè (trà) rẻ tiền trên hè phố (in dấu trong những câu thơ sau này của tôi: “một trăm bạc rượu tới thiên đường/ lần đầu lén lút bán tem gạo/ mua cái sầu giữa phố”.
Đây là hình ảnh Lê Huy Quang trong thơ tôi lúc đó:
 
QUANG I

Xô-lếch dài
Đêm tóc
Môi lang thang
Chúng ta đi tìm vui
Cái buồn tự đến
Chúng ta đi tìm Cái Đẹp
Vươn ngực gầy, xe sắt tả tơi
Ồ những đốm hồng mặt
Ồ những rung rảy môi
Giật giật rượu, không buồn không vui.
Có ai biết vì sao mắt úa?
Có ai biết vì sao áo vét dạ sờn?
Có ai biết vì sao màu lên tranh?
Có ai biết vì sao câu thơ buông như đùa giữa hai dải tóc?
Bạn ơi
Ai biết có anh trên đời?
Anh tự biết mình
Quang.
Cỡ thế giới cỡ một con người
Thế đủ rồi
Cỡ Quang
Xô-lếch dài
Đêm tóc
Môi lang thang
 
 QUANG 2

Anh có yêu một cô bé tí teo
Một cô bé tình yêu chưa mọc tóc
Tình yêu mưa chơi chơi
Biết đâu là lá nảy
Mưa thì mưa chỉ biết mưa rơi
Mưa bay hay đậu mưa ơi
Lang thang trên những bờ môi u sầu
Bạn ơi giao hợp nơi đâu
Về nằm gác cũ sắc màu đung đưa
 
Tôi nhớ, khi tìm đến nhà Xuân Quỳnh (lúc này là biên tập viên trang Thơ của báo Văn Nghệ) ở nhà tập thể số 6 phố Huế, đọc cho chị nghe 2 bài này lúc chị đang vo gạo nấu cơm ở vòi nước công cộng, Quỳnh đã đỏ mặt và mắng tôi: “Thơ gì mà tục tĩu thế!” (Xuân Quỳnh là con người rất tình cảm, thẳng thắn, cởi mở. Chị đã ly hôn người chồng đầu, sống trong căn buồng 6m2, không giường tủ, đồ đạc, chỉ một manh chiếu cũ mỏng. Một ngày mùa đông tôi đến chơi, thấy căn phòng quá lạnh giá, khi có dịp về Hai Phòng tôi đã mua một lô thảm cói Hàng Kênh rất dày mang lên lót sàn cho căn buồng của chị!)
Tuy nhiên, thời gian này tôi vẫn còn làm thơ đăng các báo chính thống!
Sự cố dẫn đến quyết định “ly khai” hoàn toàn với văn nghệ chính thống là trong một buổi họp cộng tác viên Thơ của báo Văn Nghệ. Lúc này, trên văn đàn đang xôn xao chuyện một số thơ, truyện của các tác giả trẻ bị phê phán vì tư tưởng “hoà bình chủ nghĩa” sau khi có hiệp định Paris giữa miền Bắc VN và Mỹ (1973): bài thơ “Vòng trắng” của Phạm Tiến Duật, “Ký sự đêm đợi tàu” của Đỗ Phú… Buổi họp có mặt đông đảo các nhà thơ từ thế hệ đàn anh như Tế Hanh,… đến lớp trẻ, để nghe nói chuyện về tình hình văn nghệ. Diễn giả là nhà thơ Chế Lan Viên, nhà trí thức uyên bác, ngôn luận sắc bén được nể phục, một lãnh đạo có uy thế của Hội Nhà văn. Ông cũng là người ủng hộ lớp trẻ. Còn nhớ, khi những câu thơ “hơi lạ” của tôi bị một số nhà thơ đàn anh cho là “phi lý” thì ông đã cho tôi xem chúng trong sổ tay chép những câu thơ hay của ông:“Một bờ sông tiễn đưa/ mà hy vọng cứ sa bồi thêm mãi”.

Ông Chế bước vào, đứng gác một chân lên thanh ngang của một chiếc ghế tựa, và mở đầu buổi nói chuyện bằng câu: “Tôi vừa đi họp Tuyên huấn về!”. Ông tập trung nói về hiện tượng tư tưởng không ổn trong các cây bút trẻ gần đây, và kết luận xanh rờn: “Đảng có thể bỏ đi cả một thế hệ các anh!”, “Khi trên trời máy bay ta và máy bay Mỹ đánh nhau, nếu thấy máy bay ta rơi, các anh cũng phải hô: máy bay Mỹ rơi!”
Tất cả phòng họp im phăng phắc. Riêng tôi giơ tay, đứng dạy. Tôi nói đại ý: Tác phẩm chỉ có sức thuyết phục khi người viết thực lòng yêu nước, yêu cách mạng, chứ nếu mình tự dối lòng thì làm sao mà thuyết phục ai!

Ông Chế khá bất ngờ trước phản ứng của tôi! “À, tôi có đọc bài viết gần đây của anh về Thơ, và sẽ có cuộc tranh luận với anh!” (ý ông nhắc đến bài viết về Thơ của tôi trên báo Văn nghệ, trong đó tôi nêu bật: Thơ không nên là thứ tụng ca thời thượng, mà phải thể hiện tâm trạng sâu bên trong con người!). Đó là ông còn… quên không nhắc đến việc Ban lãnh đạo Hội vừa họp, trong đó có lưu ý chuyện “tay Hoàng Hưng đang lan truyền những bản dịch thơ ngoại lai suy đồi” (ý nói những bài thơ tình của nhà thơ Pháp Guillaume Apollinaire mà tôi dịch từ tập thơ mà nhà thơ Phùng Quán mượn từ thư viện Hội Nhà văn, của nhà thơ Tây Ban Nha Federico Garcia Lorca mà tôi dịch từ bản tiếng Pháp do ông Việt Phương, thư ký của Thủ tướng Phạm Văn Đồng mang từ Pháp về; các bản dịch của tôi được nhà nghiên cứu văn học Vương Trí Nhàn ở tạp chí Văn nghệ Quân đội nhờ đánh máy và được lan truyền trong giới làm thơ trẻ ở Hà nội)! Tôi biết được việc ấy do lời “cảnh báo” của dịch giả Thuý Toàn là anh họ tôi!! (Là người du học ở Nga về, anh nổi tiếng về dịch thơ Nga và được Hội Nhà văn tin cậy).

Cũng thời gian này, tôi bắt đầu biết đến thơ miền Nam qua mấy tập thơ của Thanh Tâm Tuyền (“Liên, đêm, mặt trời tìm thấy”), Nhã Ca (bài thơ ấn tượng mạnh “Em là con gái/ Buồn như lá cây…”) mà nhà thơ Trúc Thông làm việc ở Ban Thành thị miền Nam của Đài Phát thanh Tiếng nói Việt Nam cho mượn.

Nhưng “coup de foudre” đối với nhận thức tư tưởng và thẩm mỹ văn chương của tôi xảy ra trong chuyến vô Sài Gòn ngay sau ngày “giải phóng” 1975! Từ khu chợ trời sách đường Đặng Thị Nhu bạt ngàn sách thoát khỏi chiến dịch đốt sách của Cách mạng!

Phát hiện ghê gớm nhất với tôi là tư tưởng Phật giáo (“khai tâm” với “Thiền luận” của Suzuki), triết lý hiện sinh của Sartre  & Camus; văn chương “sex” của Henri Miller, “dòng ý thức” của W. Faulkner!
Ảnh hưởng của “văn hoá suy đồi” miền Nam đối với tôi vào thời điểm đầu những năm 1980 có thể tóm tắt trong câu nói đùa với đồng nghiệp viết về giáo dục, nhà báo Kim Dung (báo Nhân Dân) mà chị nhớ rất lâu: “Ở Sài Gòn, tôi có 2 cái thú là đọc sách triết học và… ngắm các cô gái trên phố”!

Trích thông báo của Cục trưởng An ninh Điều tra Xét hỏi gửi Báo NGVND: 
“Từ năm 1978, khi được cơ quan cử vào công tác tại TPHCM, anh Hưng lại quan hệ tụ tập với một số văn nghệ sĩ của chế độ nguỵ Sài Gòn, đọc cho nhau nghe những bài thơ phản ánh cuộc sống tiêu cực, có nội dung phản động. Mặt khác bọn chúng còn hướng dẫn cho Hưng tìm đọc sách báo triết học và giáo lý phản động [tức Phật giáo!!!] nên anh Hưng càng biến chất…”.

Với giới cầm bút Sài Gòn cũ, thực tình tôi chỉ thân tình với 2 người do có mối quan hệ cá nhân cụ thể:
Một là nhà văn Nhật Tiến anh cả của nhà văn Nhật Tuấn bạn thân tôi ở Hà Nội. Vốn là một nhà giáo nghiêm túc và người cùng vợ mình (Phương Khanh) lập ra một tờ báo thiếu nhi, anh đã chào đón “giải phóng” như một lực lượng tiến bộ bênh vực dân nghèo (như lời anh tâm sự với tôi), nhưng thực tế cuộc sống sau ngày 30/4/1975 khiến anh ngày càng thất vọng. Tôi còn nhớ một hôm anh phẫn nộ nói với tôi: “Sáng nay họ viết to tướng lên bảng lớn ở sân trường: Mỗi thầy/cô giáo được ½ kg thịt lợn! Thật là sỉ nhục!”. Cả nhà anh vượt biên sang Mỹ năm 1979, và đã là nạn nhân đau khổ của hải tặc.

Hai là nhà thơ Hà Thúc Sinh là bà con xa với vợ tôi. Mối quan hệ với anh sẽ khiến vụ án của tôi thành rắc rối và tăng nặng vì sau khi đi cải tạo về, anh thường đến nhà tôi tụ họp với vài văn nghệ sĩ Hà Nội và năm 1981 anh vượt biên sang Mỹ.

Có những buổi tối tụ tập đọc thơ, hát hò ở cư xá Thanh Đa trong đó văn nghệ sĩ 2 miền giao lưu thân ái với nhau: tôi, vợ chồng hoạ sĩ Bùi Quang Ngọc, vợ chồng nhà thơ Tuân Nguyễn – Phương Thuý… (từ miền Bắc vào sống ở Sài Gòn), vợ chồng hoạ sĩ Nghiêu Đề – Lê Chiều Giang, nhà văn Trần Lê Nguyễn, cùng với vài hoạ sĩ, ca sĩ (Sài Gòn cũ) mà tôi không nhớ chính xác.

Tôi cũng thường tới quán cà phê vỉa hè của nhà văn – hoạ sĩ Hoàng Ngọc Biên ở đường Trương Minh Giảng và vào nhà anh mượn sách tiếng Pháp (như thơ Apollinaire…) 
Cũng trong những năm cuối thập niên 1970 đầu thập niên 1980, tôi hay ra quán cà phê của nhà thơ Huy Tưởng ở đường Bà Lê Chân bên hông chợ Tân Định, tụ bạ với nhà thơ Phan Đan (mới từ Hà Nội vào), Phương Kiến Khánh (sau này sang Mỹ lấy bút danh Chân Phương), nhà văn Phạm Việt Cường, dịch giả Nguyễn Tiến Văn… Chính tôi đã cho họ đọc mấy bài thơ “Cây, lá, quả” của Hoàng Cầm mà ông chép tặng tôi lần thứ nhất vào khoảng 1980, và lần năm 1982 khi xin Hoàng Cầm chép cả tập VKB là tôi chủ ý mang vào cho họ đọc.

Tại nhà tôi thời gian những cuối những năm 1970 đầu 1980 có khá nhiều buổi tụ tập bạn bè văn nghệ, hầu hết là ở Bắc vào! Hầu như hàng tuần! Vợ tôi thời đó còn đủ sức và sẵn lòng lo ăn uống nhậu nhẹt cho bạn bè văn nghệ của chồng!

Đặc biệt là những buổi “sinh hoạt tri thức” do tôi tổ chức cùng với Dương Thụ (bạn học đại học cũ, dạy văn hoá ở trường Mỹ thuật TPHCM); mỗi buổi tôi mời 1 nhân vật trình bày một chuyên đề: nhà ngữ học Cao Xuân Hạo, hoạ sĩ Lưu Công Nhân, nhà điêu khắc Nguyễn Hải… 
(Sau này, khi đã thành nhạc sĩ nổi tiếng, Dương Thụ phát triển mô hình này thành hoạt động của quán “Cà phê thứ bảy” được hãng cà phê Trung Nguyên đỡ đầu). Mỗi khi có các bạn văn nghệ ở Hà Nội vào, tôi lại mời gặp mặt tại nhà với các bạn ở Sài Gòn. Hà Thúc Sinh thường tham dự những buổi này. Khi tôi bị bắt, nhiều người trong số họ đã được công an “mời” để hỏi về tôi (như Lưu Công Nhân, Phương Kiến Khánh…).

Một buổi gặp có Hà Thúc Sinh mà tôi nhớ mãi: Trong buổi ấy, anh tâm sự cho biết mình sắp vượt biên! Đỗ Hải, một dịch giả con nhà giàu ở phố Hàng Trống Hà Nội vào SG sau 1975 tiếp thu ngôi nhà lớn của bố mình ở đường Lê Lợi, nghe xong thì tán thán: “Vous êtes parmi les élus de Dieu!” (Anh ở trong số những người được Chúa chọn). Hoạ sĩ đại tá quân đội Quang Thọ thì kêu lên: “30 năm trước chúng tôi đã chọn sai đường!”

(còn nữa)                                                                               
                                                                                     Hoàng Hưng
 

https://thekymoi.media/hoang-hung-vu-an-ve-kinh-bac-1982.../

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét