
Từ “tru” (tiếng Hán: 誅, đọc là Zhū) và từ “di” (tiếng Hán: 夷, đọc là yí) trong "Tru di tam tộc” mang nghĩa là giết sạch.
1. Cha mẹ, anh em, vợ con là tam tộc (Phụ mẫu, huynh đệ, thê tử vi tam tộc).
2. Họ cha, họ mẹ, họ vợ là tam tộc (Phụ tộc, mẫu tộc, thế tộc vi tam tộc).
3. Cha, con, cháu ( tức con của con) là tam tộc (Phụ, tử, tôn vi tam tộc).
4. Anh em của cha, anh em của mình, anh em của con là tam tộc (Phụ côn đệ, kỷ côn đệ, tử côn đệ vi tam tộc).
Ở thời kỳ quân chủ chuyên chế tập quyền cao độ, tiêu biểu như vụ tru di tam tộc của Nguyễn Trãi thời vua Lê Thái Tông.
Vì có nhiều cách hiểu như trên nên vụ án Nguyễn Trãi cách đây 555 năm (1442) cũng được người thời nay hiểu khác nhau. Cao Huy Giu dịch “Đại Việt sử ký toàn thư” đã viết như sau: “(Ngày 16 tháng 8 năm Nhâm Tuất), giết hành khiển Nguyễn Trãi và vợ lẽ là Nguyễn Thị Lộ, giết đến ba đời” (tập III, Hà Nội, 1972, tr. 131). Ba đời đương nhiên chỉ có thể là đời cha, đời con và đời cháu (ứng với nghĩa 3 của Từ nguyên) mà thôi. Nhưng Phan Huy Lê thì lại viết: “Nguyễn Trãi bị ghen ghét gièm pha, có lần bị hạ ngục và cuối cùng bị tru di ba họ”. Ba họ, theo cách hiểu thông thường là họ cha, họ mẹ và họ vợ đương nhiên phải nhiều và nặng hơn ba đời vì ba đời chỉ thuộc có một họ.
Trích từ trang Tiếng Việt giàu đẹp
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét