CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Sáu, 30 tháng 1, 2026

THẬM XƯNG 甚稱 – Ung Chu, Hán Việt Thông Dụng



HYPERBOLE - OVERSTATEMENT - EXAGGERATION - AUXESIS - NGOA DỤ - NÓI QUÁ - PHÓNG ĐẠI - KHOA TRƯƠNG - CƯỜNG ĐIỆU HOÁ - THẬM XƯNG

"Thậm xưng" 甚稱 là một trong những từ người Việt dùng để chỉ phép tu từ nói quá. Một cách khác là "ngoa dụ" .
- thậm : rất, lắm, quá mức, như trong "thậm tệ", trước đây người Việt từng dùng "thậm" làm phó từ chỉ mức độ

- xưng : gọi, xưng hô, nói
- ngoa : không đúng sự thật, như trong "nói ngoa", "điêu ngoa", chữ này mang bộ "ngôn" (nói, lời nói) và kí âm bằng chữ "hoá"
- dụ : nói ví von (chứ không nói theo đúng nghĩa đen), như trong "phúng dụ", "ẩn dụ", "hoán dụ", chữ này mang bộ "khẩu" (miệng) và kí âm bằng chữ "du" .

"Con muỗi to như con voi", "tát biển Đông cũng cạn", "nghĩ nát óc"... là các ví dụ về nói quá, ngoa dụ, thậm xưng. 
Phép tu từ này còn được gọi là "khoa trương" 誇張 theo cách gọi trong các ngôn ngữ khác tại vùng văn hoá Hán tự, "khoa" nghĩa là khoe khoang, khoác lác (nói quá mức sự thật), "trương" nghĩa là khuếch đại. Tiếng Nhật đọc là "ko-chō" こちょう, tiếng Hàn đọc là "gwa-jang" 과장. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là .

"Khoác" là âm Việt hoá của chữ "khoách / khuếch" nghĩa là khuếch đại, khuếch trương. Phép nói quá còn được gọi là "phóng đại" 放大 nghĩa là làm cho to lớn ra. Cách gọi khác là "cường điệu hoá" 強調化 hay "cường điệu" 強調 nghĩa là nhấn mạnh (trong ngữ cảnh này là nhấn mạnh do nói quá).

Sách "Việt-Nam văn-phạm" (1940) của Trần Trọng Kim, Phạm Duy Khiêm, Bùi Kỷ viết:
- Cách ngoa-ngữ là cách đem việc tuyệt-nhiên không bao giờ có, mà nói để biểu-diễn một cách rất mạnh cái ý nói không có, không được:

Bao giờ rau diếp làm đình,
Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta. 
                                    (Ca-dao)

Rau diếp là thứ rau dùng để ăn ghém, mà gỗ lim là thứ gỗ tốt dùng để làm nhà, làm đình. Nhưng đây lại nói trái đi để tỏ ý không bao giờ được.
- Cách thậm-xưng là cách dùng tiếng nói quá hẳn sự thực, để làm cho tôn cái ý người ta định nói về một vật gì:

Chìm đáy nước cá lừ-đừ lặn,
Lửng da trời nhạn ngẩn-ngơ sa. 
                                (Cung-oán)

Ý khen cái đẹp đến nỗi cá trông thấy cũng không bơi được nữa, phải lừ-đừ lặn xuống đáy sông; chim trông thấy cũng không bay được nữa, phải ngẩn-ngơ sa xuống đất.
                                                                                Ung Chu
                                                                        Hán-Việt Thông Dụng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét