"Thậm xưng" 甚稱 là một trong những từ người Việt dùng để chỉ phép tu từ nói quá. Một cách khác là "ngoa dụ" 訛喻.
- dụ 喻: nói ví von (chứ không nói theo đúng nghĩa đen), như trong "phúng dụ", "ẩn dụ", "hoán dụ", chữ này mang bộ "khẩu" 口 (miệng) và kí âm bằng chữ "du" 俞.
Phép tu từ này còn được gọi là "khoa trương" 誇張 theo cách gọi trong các ngôn ngữ khác tại
vùng văn hoá Hán tự, "khoa" 誇
nghĩa là khoe khoang, khoác lác (nói quá mức sự thật), "trương" 張 nghĩa là khuếch đại. Tiếng Nhật đọc là
"ko-chō" こちょう,
tiếng Hàn đọc là "gwa-jang" 과장. Tiếng Trung Quốc viết giản thể là 夸张.
- Cách ngoa-ngữ là cách đem việc tuyệt-nhiên không bao giờ có, mà nói để biểu-diễn một cách rất mạnh cái ý nói không có, không được:
Bao giờ rau diếp làm đình,Gỗ lim ăn ghém thì mình lấy ta.(Ca-dao)
Rau diếp là thứ rau dùng để ăn ghém, mà gỗ lim là thứ gỗ tốt dùng để làm nhà, làm đình. Nhưng đây lại nói trái đi để tỏ ý không bao giờ được.
- Cách thậm-xưng là cách dùng tiếng nói quá hẳn sự thực, để làm cho tôn cái ý người ta định nói về một vật gì:
Chìm đáy nước cá lừ-đừ lặn,Lửng da trời nhạn ngẩn-ngơ sa.(Cung-oán)
Ý khen cái đẹp đến nỗi cá trông thấy cũng không bơi được nữa, phải lừ-đừ lặn xuống đáy sông; chim trông thấy cũng không bay được nữa, phải ngẩn-ngơ sa xuống đất.
Ung Chu
Hán-Việt Thông Dụng

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét