CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Năm, 15 tháng 1, 2026

CHỮ TÁC 作 ĐÁNH THÀNH CHỮ TỘ 祚 - Ung Chu, Hán-Việt Thông Dụng

 

Người Việt có thành ngữ "chữ tác đánh chữ tộ", hoặc có thêm một vế nữa là "chữ ngộ đánh chữ quá", dùng để nói về việc yếu kém chữ nghĩa, không đọc thông viết thạo, nhầm chữ này với chữ nọ. Vậy chữ "tác" và chữ "tộ", chữ "ngộ" và chữ "quá" là những chữ gì mà có thể nhầm lẫn?
- tác : nghĩa là làm, làm ra, tạo ra, như trong "sáng tác", "thao tác", "tác nghiệp", "tác giả", chữ này mang bộ "nhân"  (người)
- tộ : nghĩa là phúc lành, vận nước, như trong "quốc tộ", chữ này mang bộ "thị / kì"  () gắn với các chữ về tế lễ (祭禮), thần linh, như trong chữ "phúc" , "lộc" 祿, "tổ" ...
- ngộ : nghĩa là gặp gỡ, mắc phải, như trong "hội ngộ", "tái ngộ", chữ này mang bộ "sước"  (dùng cho các chữ liên quan việc di chuyển) và kí âm bằng chữ "ngu" 
- quá : nghĩa là trải qua, vượt qua, vượt quá, như trong "thái quá", "quá giang", chữ này mang bộ "sước"  và kí âm bằng chữ "oa / qua" .

Mỗi cặp chữ trên chứa một thành phần giống nhau và thành phần còn lại có hình dạng gần giống nhau, khi viết tay có thể khiến một số người nhầm lẫn khi đọc. Hoặc nếu viết rõ ràng mà người đọc không biết đủ nhiều chữ nghĩa thì cũng có thể đọc nhầm.
"Tộ"  là âm đọc theo phiên thiết "tạc ngộ thiết" 昨誤切 = [t]ạc + ng[ộ] = tộ (nặng + nặng = nặng). Chữ này trong Hán ngữ cổ xưa còn được dùng để chỉ năm. Người Việt cổ xưa cũng đã dựa trên mặt chữ "tộ"  mà Việt hoá là "tác" nghĩa là tuổi tác (1 tuổi ứng với 1 năm).

 Alexandre de Rhodes ghi nhận tiếng Việt nửa đầu thế kỉ 17:
- tác, tuổi tác: muito velho: ſenex valdè.
- tüế, tuổi: annos de ida de: ætatis anni. vạn tüế, muôn tuổi: des mil annos: decem annorum millia, eſt ſalutatio ad regem.
- tuổi: idade, annos de idade: ætatis anni. bao nhêu: que idade tendes: ætatem quam nam habes ? quot annos natus es? muân tuổi: viua des mil annos: decies mille annis viue. vạn tüế, thien vàn, idem. tuổi tác: muito velho: decrepitus, i. già nua, idem. ngày tuổi: dia infausto: dies infauſta, quia ſcilicet putant ſignum illud correſpondens diei in qua nati ſunt ipſis eſſe infauſtum nec in die aut hora in qua idem ſignũ reccurrere putãt quicquam momenti aggredi audent, quia timent infauſtum exitum. xem tuổi: ſuperstição de notar os annos da idade: ſuperſtitio qua conſiderant ſignum ſub quo ſe natos putant vtrum habeat ſympathiam necne cum alio ſigno, & hoc præſertim in matrimonijs ineundis conſiderant Etknici.

"Tuế"  nghĩa là năm, như trong "tuế nguyệt", và tuổi tính theo năm nên "tuế"  cũng có nghĩa là tuổi. "Tuế" là âm Hán-Việt hiện đại theo phiên thiết "tương nhuệ thiết" 銳切 = [t]ương + nh[uệ] = tuế (ngang + nặng = sắc), "tuổi" là âm Hán-Việt cổ xưa, tương tự "phế"  là âm Hán-Việt hiện đại và "phổi" là âm Hán-Việt cổ xưa. "Niên"  trong Hán ngữ nghĩa là năm mà cũng có nghĩa là tuổi, như trong "thanh niên", "thiếu niên".

Người Hán cổ đại gọi Mộc tinh là "Tuế Tinh" 歲星. Chu kì quỹ đạo Mộc tinh quanh Mặt trời xấp xỉ 12 năm trên Trái đất, do đó người xưa có thể chia thành 12 phần trên nền trời, xem Mộc tinh ở vị trí nào để xác định chu kì 12 năm Trái đất ứng với 12 chi (Tí Sửu Dần Mẹo Thìn Tị Ngọ Mùi Thân Dậu Tuất Hợi).

Từ đây, người Hán cổ đại tạo ra quan niệm về thiên thể đối nghịch với Mộc tinh (sao Tuế) qua từng năm, thiên thể hư cấu đó được gọi là "Thái Tuế" . Thái Tuế được xem là thứ mang đến tiêu cực cho người có năm tuổi bị phạm Thái Tuế, mỗi năm có thể xác định 4 chi phạm Thái Tuế cách nhau lần lượt 3 chi (12 ÷ 3 = 4). Từ chu kì ban đầu là 12 năm ứng với 12 sao Thái Tuế, người xưa kết hợp can chi, ngũ hành mà thành chu kì 60 năm gọi là "hoa giáp" 花甲, do đó xác định được 60 sao Thái Tuế.
                                                                              Ung Chu
                                                              Theo Hán-Việt Thông Dụng

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét