“Đêm thu, gió lọt song đào,Nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời.”(Truyện Kiều)
Ba sao giữa trời, nguyên văn chữ Hán viết “tam tinh tại thiên 三星在天”, xuất phát từ Kinh Thi, phần Đường phong 唐風, bài Trù mâu 綢繆 rằng: “Trù mâu thúc tân, tam tinh tại thiên 綢繆束薪,三星在天”. Tạm dịch là: buộc chặt bó củi, ngẩng lên thấy ba ngôi sao giữa trời. Trong văn chương cổ, Tam tinh 三星 thường dùng để chỉ ba ngôi sao sáng nằm giữa bầu trời đêm, cũng là dấu hiệu cho biết đêm đã về khuya.
Trong Từ điển Truyện Kiều, Đào Duy Anh giảng rằng “ba sao” ở đây là sao Tâm thuộc chòm sao Thần Nông, xuất hiện giữa trời vào lúc nửa đêm. Vì vậy trước hết, có thể hiểu hai câu thơ của Nguyễn Du là một bức tranh đêm thu tĩnh lặng, gió lùa qua song cửa, trăng đã xế và sao treo lưng trời.
Tuy nhiên, hình ảnh “nửa vành trăng khuyết, ba sao giữa trời” còn gợi ra một liên tưởng rất đẹp về chữ Tâm 心 trong chữ Hán. Nhà Phật có bài kệ rằng: “Tam điểm như tinh liệt, hoành câu tự nguyệt tà 三點如星列,橫勾似月斜", tức ba nét chấm xếp như sao, nét cong ngang giống vành trăng xế. Chữ Tâm 心 viết theo lối Hán tự quả thực có ba chấm phía trên và nét cong bên dưới, nhìn rất giống hình ảnh “ba sao” cùng “vành trăng khuyết”.
Vì thế nhiều người cho rằng Nguyễn Du nào chỉ tả cảnh đêm khuya một cách đơn thuần. Thay vào đó, ông gửi nỗi lòng nhân vật vào từng câu thơ một cách kín đáo: Lúc này Thuý Kiều đang nhớ Thúc Sinh, mà tên của chàng lại là Thúc Kỳ Tâm 叔季心. Trăng khuyết cùng ba sao ghép lại thành hình tượng chữ “tâm” như thể giữa đêm thu thanh vắng, nỗi nhớ người thương đã lấn vào cả cảnh vật, nhìn thấy đâu đâu cũng là bóng hình chàng.
Đây cũng là cái hay quen thuộc trong bút pháp của Đại thi hào dân tộc.
Bài viết của Khánh Ly

Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét