CÁM ƠN CÁC BẠN ĐÃ GHÉ THĂM, ĐỌC VÀ GHI CẢM NHẬN. CHÚC CÁC BẠN NĂM MỚI NHÂM DẦN 2022 THÂN TÂM LUÔN AN LẠC

Thứ Bảy, 30 tháng 1, 2021

HỒI KÝ NGUYỄN HIẾN LÊ, CHƯƠNG XXIX: BẠN XA GẦN

Nguồn:

https://isach.info/story.php?story=hoi_ki_nguyen_hien_le__nguyen_hien_le&chapter=0030


Học giả Nguyễn Hiến Lê
(1912–1984)


Trong chương này tôi chép lại ít hồi kí một số người nhờ cái duyên văn tự tôi được gặp trên đường đời, có người thân như ruột thịt, hơn ruột thịt nữa; có người chỉ gặp một lần hoặc chưa gặp lần nào; có người tánh tình trái ngược hẳn với tôi, nhưng vẫn có điểm cảm thông với nhau.
 
BẠN VĂN
 
Trước hết tôi phải kể ba bạn thân: Đông Hồ, Hư Chu, Giản Chi. Đông Hồ, Giản Chi lớn hơn tôi, người năm tuổi, người sáu tuổi, Hư Chu nhỏ hơn tôi mười tuổi. Đông Hồ là người Nam (sinh trưởng ở Hà Tiên) nhưng từ gia phong đến giáo dục, bút pháp đều giống nhà Nho đất Bắc, còn Hư Chu và Giản Chi đều là người Bắc. Cả ba bạn đó đều biết chữ Hán, đều giữ được ít nhiều phong cách nhà Nho. Bốn anh em tôi giao du với nhau, tình "đạm nhực thuỷ" tuy thắm thiết mà không vồn vã, ồn ào.

Mới quen thì chỉ kính nhau thôi, lần lần càng hiểu nhau thì càng quí mến nhau hơn, mặc dầu có khi vài tháng mới lại thăm nhau một lần. Gặp nhau chúng tôi nói chuyện về văn thơ nhiều nhất, rất ít khi tâm sự về chuyện riêng. Mỗi người có một lối sống riêng, những sở thích riêng, chúng tôi biết tôn trọng những cái đó của nhau. Nếu thấy thật cần phải khuyên nhau một lời thì chỉ nói phớt qua, mà nếu bạn không đồng ý với mình thì thôi. Tôi nghĩ: Miễn thành thực với nhau và giữ được tư cách là đủ, ngoài ra không cần biết tới.
 
ĐÔNG HỒ

Trong những chương trên tôi đã nhắc nhiều đến Đông Hồ, đã kể lần đầu tiên tới gặp ông ở Yiễm Yiễm thư trang một buỗi chiều đông khi tôi mới ở Long Xuyên lên Sài Gòn, kể những lần họp cuối năm ở Quỳnh Lâm thư thất, kể ông tặng tôi hai gốc Hoàng lan khi tôi mua được nhà mới, tôi tặng hai hoa lan đầu tiên chín bói

Ông mất ngày 25.3.1969 thọ 63 tuổi. Cái chết của ông thật đẹp: đương ngâm thơ về Trưng vương của Ngân Giang ở giảng đường Văn khoa thì đứt gân máu, té xỉu trong cánh tay sinh viên, hôn mê, đưa lại dưỡng đường rồi về nhà, bảy giờ tối tắt thở.
Sáng hôm sau hay tin, Đông Xuyên và tôi (Giản Chi lúc đó dạy học ở Huế) tới, thấy nét mặt ông hồng hào và tươi. Xúc động mạnh, về nhà tôi viết ngay bài Khóc bác Đông Hồ mà nước mắt trào ra. Bài đó đăng kịp trên báo Bách Khoa số 1.4.69.

Sau đó, tôi viết bốn bài nữa về ông: Thi sĩ Đông Hồ và nhà Ngô (Tin Văn - 1969), tựa Úc viên thi thoại (1969), Hồn Đại Việt giọng Hàn Thuyên (1970), Họ Mạc và họ Lâm (1971). Tất cả những bài đó đều nhắc tới sự nghiệp văn thơ của ông, và được giới thiệu trong những chương trên, nên tôi không chép lại.

Ông coi tất cả gia đình tôi như người trong nhà. Tôi ham viết mà lại thường đau, ông cũng yếu, nhà chúng tôi xa nhau, nên lâu lâu mới gặp nhau. Ông viết được bài nào đắc ý thì lựa hai bản in riêng, đích thân ông sữa lỗi in rồi đóng lại thành tập mỏng, trân trọng đề tặng, đóng dấu son "Đông Thuỷ cổ nguyệt" (tức Đông Hồ: chữ Hồ gồm ba chữ thuỷ, cổ và nguyệt), rồi gởi cho tôi hai bản, một bản để vào tủ sách ở Long Xuyên, một để tủ sách Sài Gòn.
 
Đọc văn tôi thấy cuốn nào, bài nào vừa ý thì ông lại thăm tôi hoặc viết thư khen vài lời chân thành, chẳng hạn bảo cuốn Sống đẹp của tôi "dịch như vậy là hay", nhớ lại bài Hương và sắc, ông bảo: "Sao và dầu là hai cây đặc biệt ở miền Nam, mà trong này không nhà văn nào để ý tới, chỉ có bác và Võ Phiến: người ở Bắc, người ở Trung, là tả cái hương của sao và cảnh hột dầu bay lả tả"; lần khác ông cũng khen tôi và Võ Phiến nữa: "Viết tuỳ bút thì Võ Phiến nhất miền Nam này, mà biên khảo thì không ai hơn bác".
 
Nhưng cũng có trường hợp ông làm một bài thơ khá dài để khen một tác phẩm, như bộ Đại cương triết học Trung Quốc. Bài đó bằng chữ Hán, tôi còn giữ, không chép lại đây.
Ông cho tôi là tri kỉ của ông khi tôi bảo ông có truyền thống nhà Nho, chỉ thích dạy học (lúc đó ông dạy ở Văn khoa Sài Gòn), truyền lòng yêu tiếng Việt cho những thánh niên tuấn tú; tôi cũng nhận ông là tri kỉ của tôi khi ông nghe tin đồn người ta mời dạy đại học Văn khoa Sài Gòn, vội vàng sáng sớm từ trong Gia Định lại đường Kì Đồng để khuyên tôi đừng nhận vì mất thì giờ lắm, "thì giờ của bác quí hơn của tôi nhiều".

Biết tôi đau bao tử, nên khi nào mời tôi dự tiệc, cũng bảo người nhà làm món xôi cho tôi, lễ thành hôn cho cháu Yiễm Yiễm, con gái út của ông, trong số bạn văn ông bà chỉ mời vợ chồng tôi lại dự tiệc đưa dâu, còn tiệc đãi bạn bè, họ hàng ở khách sạn thì biết tôi không ưa náo nhiệt, nên không ép.
 
Ông kính bác ba tôi ở Tân Thạnh cũng như kính bác ruột ông, biết bác tôi ở Đông Kinh nghĩa thục và có hai đứa con, Tân Phương và Việt Châu, là nhà thơ khá có tiếng ở Nam, nên ân hận không có dịp gặp bác tôi.
Cảm động nhất như tôi đã nói là mỗi lần lại thăm tôi ông đốt một cây nhang ở bàn thờ song thân tôi rồi mới ngồi nói chuyện.

Ông Nguyễn Hữu Ngư cũng đốt nhang, quì trước bàn thờ cha tôi vì cha tôi và thân phụ ông cùng sinh năm Đinh Hợi (1887) và cùng theo phong trào Đông Kinh nghĩa thục.
 
Từ năm 1963, nhất là mấy năm trước khi mất, Đông Hồ và tôi thường thư từ với nhau. Ông nhờ tôi kèm thêm Pháp văn và toán cho cháu ngoại ông, cháu Quỳnh Lâm, thành thử thư đi thư lại rất tiện. Ông là nhà văn tôi giữ được nhiều bức thư quí nhất, có bức cảm động như bức ông sám hối với Bá phụ ông, tôi đã cho in trong tập Làm con nên nhớ, có bức dài mươi trang như bức thư đề ngày 19.3.64 dùng năm màu giấy, trong đó ông cho biết cách ông cấu từ bài Trường Xuân hành (Bức thư đó là một tài liệu đáng lưu lại trong Văn học sử Việt Nam, quí như bài Quách Tấn kể mình đã làm bài Đêm thu nghe quạ kêu trong trường hợp nào, lựa chữ, dùng điển ra sao.

Ngày 27 Tết năm đó (Giáp Thìn - 1964) ông tặng tôi một cành Mai bông trắng rất thơm đem từ núi Tô Châu (Hà Tiên) lên 1, rồi nghĩ liền hai câu:
 
Một cành Xuân gởi niềm trân trọng
Sứ dịch trao tay mở nẻo đường.
 
Ông tính làm thêm sáu câu nữa thành một bài thơ luật, nhưng bận dọn dẹp nhà để ăn Tết, không làm được.
Tối ba mươi Tết ông sực nhớ năm đó Yiễm Yiễm thư trang được đúng 15 tuổi, bèn dùng ý đó nghĩ thêm bốn câu nữa.
Sau mồng một Tết, ông nghĩ thêm được hai câu nữa thành bài thơ khai bút tám câu.
Rồi ông trở lại ý hoa mai ở đầu, được bốn câu, thành 12 câu. Đã có 12 câu thì phải làm thêm thành một bài hành.
Bẵng đi ba tuần mải vẽ hoa mai, ông quên bài thơ dở dang đó. Ngày 24 tháng giêng (8.3.64), ông nhận được thư của tôi cho hay cành mai ông cho tôi đã tàn vào một ngày đầu năm rồi lại đăm nụ, nở nữa, thành "nhị độ mai", ông mừng làm tiếp sáu câu về nhị độ mai.
Chiều tối hôm đó, người nhà và học sinh cũ làm lễ sinh nhật ông. Ông vui, làm thêm sáu câu nữa, thành 4 đoạn, mỗi đoạn sáu câu, với hai câu kết:

Gió lộng non trầm dâng khói hạc
Vương đình trăng dọi chén quỳnh tương.
 
Hơn một tháng sau, ngày 25.4.64, ông sửa lại bài Trường Xuân hành đó, và nhận được một bức thư khác của tôi kể về quê hương tôi ở Bắc, nhân đọc mấy câu đối bác Ba tôi cho tôi từ 16-17 năm trước, ông làm thêm bài Tục Trường Xuân hành, gồm 4 đoạn, đoạn 1 và 3 đều 6 câu, đoạn 2 và 4 đều 4 câu, cộng 20 câu; ông đánh máy tiếp vào bài trên, thành một bài dài 46 câu (26+20).
 
Bài Trường Xuân hành (đăng trên Văn hoá nguyệt san năm 1966) ông làm gần trọn một mùa xuân mới xong, hoàn toàn tuỳ hứng, không bố cục trước, nhân một việc gì xảy ra, làm ít câu rồi để đó; ít lâu sau một việc khác xảy ra, hoặc nhớ lại một lời nào, không liên quan gì với việc trước, ông lại làm tiếp, nối vào với những câu trên; trước sau ông chép năm sáu việc khác nhau, cảm hứng khác nhau, chỉ có niềm vui này xuân làm sợi dây Ariane trong bài trường thiên 46 câu đó thôi. Lối đó rất đặc biệt, có biết thì mới hiểu được thơ của ông. Nó chỉ đặc biệt thôi chứ không thể coi là kiểu mẫu được, mà những bài thơ ông làm theo lối đó, người ngoài cuộc không sao hiểu nổi, nên không thể gọi được là hay.
 
Thư cho tôi, ông viết rất tháu, thường nằm mà viết, nên khó đọc, nét tươi như nét vẽ của ông, lời là lời đàm đạo bên chén trà, hoặc tâm sự đêm khuya dưới ánh trăng.
Tôi còn giữ tất cả những bức thư của ông. Ông mất được mấy năm, Nha Văn hoá tổ chức một cuộc triển lãm tác phẩm và di bút của ông ở Thư viện Quốc gia mới cất đường Gia Long. Bà quả phụ Đông Hồ mượn tôi những bức thư đó để triển lãm cùng với những bức ông nhận được của tôi. Khi trả lại, bà có nhã ý làm photocoppy tặng tôi những thư tôi gởi cho ông, thành thử trong nhà tôi có đủ những bức thư của chúng tôi gởi cho nhau, điều đó chắc hiếm thấy. Bà còn bảo: "anh Đông Hồ không hề gởi cho ai nhiều thư, mà cũng không nhận được của ai nhiều thư như vậy".
 
Tác phẩm của ông tôi có gần đủ: Cô gái xuân, Bội lan hành, Hương gây mùi nhớ Quí nhất là tập thơ Trinh trắng có dán bông Hoàng lan tôi đã kể ở trên, với hai bức hoạ hoa mai, có đề thơ: một bức với một bài thơ chữ Hán, một bức với một bài thơ chữ Việt, tức bài Nhị độ mai kí (chép ở trang trên) được ông sửa và thêm nhiều câu. Bức chữ Hán tôi cho cháu tôi, Tô Lệ Hằng, đem qua Pháp tháng 5.1979 cùng với toàn bộ tác phẩm của tôi. Các bạn của cháu ở Paris trầm trồ khen nét vẽ và ý nghĩa bài thơ. Ông có công sao lục và khảo cứu Truyện Song Tinh bằng thơ của Nguyễn Hữu Hào thế kỉ XVIII. Năm 1982 (?) có thêm một bản nữa của Hoàng Xuân Hãn.
 
Đông Hồ thật là một nghệ sĩ từ tính tình, lối sống tới tài năng: thơ văn ông chải chuốt trang nhã, bóng bẫy, phong lưu nhưng ít cảm; chữ Hán nét tươi như múa, vẽ mai thì tôi chắc ở nước mình không có ai hơn. Ông trắng trẻo, nhỏ, thấp, nho nhã, vẻ hơi yếu đuối, đúng là một thư sinh thời cổ.
 
HƯ CHU
 
Đông Hồ mất năm 1969 thì bốn năm sau Hư Chu mất mới 50 tuổi. Gia đình ông nhờ nhà xuất bản Mặc Lâm báo tin cho tôi hơi trễ; được tin tôi cũng xúc động viết ngay một bài kể cuộc đời, sự nghiệp văn thơ của ông. Bài đó đăng trên Bách Khoa, ngắn mà đầy đủ, các bạn văn cho là cảm động.
 
Ông làm thơ ít mà hay, viết văn kĩ, điêu luyện theo một lối riêng tôi đã có dịp nói tới rồi, và cũng thích dạy học. Được học trò và bạn bè đều mến, tính tình hiền lương, thành thực, nhã. Đông Hồ là một nghệ sĩ phong lưu theo lối cổ; Hư Chu cũng là một nghệ sĩ lối cổ - nhưng bình dân hơn, kiểu một ông đồ thích uống trà, đánh tổ tôm, chơi non bộ, trồng cây, nuôi chim, gà.
 
Ông giúp tôi rất nhiều trong năm đầu tôi lập nhà xuất bản, cùng tôi đi giao sách, thu tiền; các hiệu sách ở Sài Gòn thời 1954-1955 đều để ý đến chúng tôi, hễ thấy chiếc xe máy dầu sơn đen hiệu Peugeot do Hư Chu lái thì thế nào cũng thấy tôi ở phía sau. Ông cùng tôi sửa bản vỗ cuốn đầu bộ Đại cương văn học Trung Quốc, mệt và bực mình vô cùng. Chúng tôi không có kinh nghiệm, giao trọn cho một nhà báo, họ sắp chữ Hán sai be bét, chúng tôi gần như phải sắp lại hết cho họ.
 
Sau ông dạy Sử, Địa ở nhiều trường tư, có hồi dạy bốn chục giờ mỗi tuần, nên chúng tôi ít gặp nhau. Tôi không còn giữ được thư nào của ông. Ông ít viết thư, có việc gì thì tìm bạn nói chuyện. Ông thật là một bạn tốt.
 
GIẢN CHI
 
Tôi tự xét không phải là một nghệ sĩ, không có chút nghệ sĩ tính nào cả, mà ba bạn thân của tôi đều là nghệ sĩ.
Ông Giản Chi Nguyễn Hữu Văn là một nghệ sĩ nhưng mới hơn Đông Hồ và Hư Chu, hơn tôi sáu tuổi, hơn Đông Hồ một tuổi, tôi cả hai ông như anh.
 
Tôi quen ông là do ông Đông Xuyên dắt vào một buổi sáng mùa Đông năm 1958. To lớn, hớt tóc ngắn, ông có vẻ hiên ngang, không ra một thi sĩ. Tính tình tự nhiên, thẳng thắn, dễ thân mật, ăn nói nhã nhặn. Sau được coi một tấm hình của ông hồi ngoài ba mươi tuổi, tôi bảo đùa ông: "có vẻ Lương Sơn Bạc quá".
 
Ông quê làng Hạ Yên Quyết (tục gọi là làng Cót) trên đường Parreau từ làng Bưởi qua Cầu Giấy. Làng đó nổi tiếng là làng văn vật trong tỉnh Hà Đông, mà họ Nguyễn của ông từ cuối Lê, đầu Nguyễn, thời nào cũng có người đỗ đạt, không kém họ Hoàng của Hoa Bằng Hoàng Thúc Trâm cũng ở làng đó. Ông có một người anh nổi tiếng hay chữ hay thơ.
 
Ông sinh năm 1905, học chữ Hán, 15 tuổi đậu khoá sinh, lúc đó thi Hương đã bỏ, ông chuyển qua học chữ Pháp, ít năm sau đậu bằng Tiểu học, học bốn năm nữa, đậu bằng Cao đẳng tiểu học Pháp hạng bình. Nhà ở xa, nên hồi học ở Hà Nội ông phải ở trọ trong đền Ngọc Sơn hay một chùa nào đó.
Ông làm sở Bưu điện, tính cương trực, cấp trên không ưa, có thời đổi lên Lai Châu, lưu lại bài:
 
THU LAI CHÂU
 
Hơi may gây gây,
Trời vùng này nhiều mây,
Nắng mưa chập chờn,
Không rượu lòng như say.
Thư nhà đỏ mắt,
Phím đàn không dây!
Lá đồi trận trận vàng lìa cây.
Dăm ba bông đại hương ngây ngất người,
Sông Na núi Síp bồi hồi,
Ngó sông ngó núi, mơ người Mường Keo.
 
Tính tình ông hào hoa phong nhã, thích hoa, rượu, nhạc. Thơ ông có giọng lãng mạn của thời đó, nhưng không sướt mướt mà hào hùng:
 
MỜI RƯỢU
(trích một đoạn) 
Uống đi, nào bạn uống đi,
Lênh đênh ngày tháng mấy khi sum vầy!
Uống cho lòng ấm đêm nay,
Tỉnh suông suốt kiếp, thà say một giờ.
Có đôi trong cõi mơ hồ,
Hoạ khuây dĩ vãng, bất ngờ tương lai,
Thời gian hoạ có bớt dài,
Không gian hoạ rút trong vài tấc li
 
Về sau nhắc lại thời đó ông ân hận rằng đã phí bỏ tuổi xuân.
Ông theo Việt Nam Quốc dân đảng, nhưng năm 1945 vì yêu nước, ghét Tây nên cũng giúp Việt Minh. Sau cách mạng tháng tám, ông khẳng khái tặng hết ruộng cho cách mạng, lại bỏ tiền rèn khi giới giúp anh em kháng chiến. Lòng trai bốn phương của ông lúc đó bừng bừng phất phới với ngọn cờ đỏ sao vàng:
 
L. có thấy:
Mặt trời đêm nay
Đang lên rỡ ràng?
Rừng cờ mở đỏ,
Ngôi sao bay vàng
Sao bay cờ mở,
Lòng trai bốn phương
Nghĩa đời rộng mở,
Tình người lên hương
(Lòng trai bốn phương).
 
Những năm kháng chiến, ông ra bưng, lên miền thượng du kiếm ăn bằng các nghề xe gai, buôn nứa và chăn vịt, từng ngủ đêm đã phải ngủ nơi bãi tha ma, sống cuộc đời nay đây mai đó.
 
VÔ ĐỊNH
Ta lại ra đi đời lang thang,
Những ngày vô định, bước tha hương,
Thuyền bay độc mộc, mơ trăng Cót
Bãi ngủ tha ma, hút thuốc Mường.
Nước cả, vịt tan, trời đổ bão!
Bóng chiều, ngựa thét, núi chia cương
Tỉnh say hoa khói, cười mưa gió,
Ngoảnh lại phù sinh chốc nửa đường!
 
Rồi ông hồi cư về Hà Nội. Năm 1954, thấy chính sách ruộng đất không ổn, thấy bạn cũ trở mặt với ông, tố ông, không còn chút tình người gì cả, ông phải bỏ quê hương mà vô Nam.
 
TRÊN ĐƯỜNG BAY VÔ NAM
"Tâm tư bất năng ngôn,
Trường trung xa luân chuyển".
(Cổ thi)
Trải mấy thu làm khách bốn phương,
Thu nay lìa xứ lại lên đường.
Biển leo trời thẳm muôn làn biếc,
Cát giãi cồn xa một sắc vàng.
Cuộc sống đã đành khinh gió bụi,
Lòng người ai chả có quê hương!
"Cỏ tương tư" giục hoàng hôn xuống,
Mây trắng tơi bời, núi ngổn ngang
 
Nhờ cuộc di cư đó mà tôi được gặp ông. Hồi đó tôi đã được đọc tập Cô độc gồm một số truyện ngắn của Lỗ Tấn, ông tuyển rồi dịch, nhà Á châu xuất bản ở Hà Nội năm 1954. Biết cái vốn Hán tự của ông, nhất là Bạch thoại, hơn tôi nhiều, tôi đề nghị với ông cùng viết bộ Đại cương triết học Trung Quốc, ông nhận lời, và chúng tôi hợp tác với nhau về cổ học Trung Quốc cho tới sau ngày giải phóng như trên tôi đã nói.
 
Sự hợp tác đó rất vui và có lợi cho cả hai. Nhờ có ông, tôi mới mạnh bạo tiến vào khu vực đó, và nhờ tôi thúc đẩy, từ đó ông mới sáng tác mạnh. Ngoài những tác phẩm viết chung với tôi, ông còn dịch A.Q. chính truyện (của Lỗ Tấn), Tuyển tập Lỗ Tấn, Cái đêm hôm ấy (S. Maugham) Chúng tôi nhận định giống nhau, biết châm chước ý kiến của nhau và cùng có lương tâm như nhau. Tôi nghĩ nếu không gặp ông thì công việc nghiên cứu của tôi đã theo một hướng khác, vì không hợp tác với ông thì tôi không thể hợp tác với người nào khác trong ngành Cổ học Trung Quốc; còn ông cũng nhận rằng trước khi gặp tôi ông không có ý bước vào khu vực đó. Thực là một duyên tiền định, có lẽ chưa hề thấy trong văn học sử nước nhà từ đầu thế kỉ đến nay.
Ông cho tôi là một bạn tương tri của ông, có lần gởi cho tôi hai câu này:
 
Nhớ đâu thuở ấy "xào" Trung triết,
Đâu chỉ thời xưa mới Thúc Nha
 
Tôi cũng coi ông là bạn tương tri, khi có người bàn với ông giới thiệu tôi về Giải tuyên dương sự nghiệp, ông gạt đi: "Bác ấy không chịu đâu, đừng giới thiệu".
Trước đó cả hai anh em tôi đã từ chối Giải thưởng văn chương toàn quốc về bộ Đại cương triết học Trung Quốc.

Khi mới soạn xong bộ đó, trao nhau bản thảo để đọc lại cho nhau, ông khen phần "Vài nét sơ lược về sự phát triển của triết học Trung Hoa" viết chưa kĩ nhưng được lắm; và tôi cũng nhận phần Vũ trụ luận và Tri thức luận của ông, khó có ai viết hơn ông được.
 
Ông làm thanh tra Quân Bưu đến khi về hưu rồi dạy Đại học Văn khoa Sài Gòn, Huế về môn Trung triết, tới năm 1977 thì thôi.

Chỉ khi nào thực có hứng ông mới làm thơ, nên tới nay ông mới có độ vài trăm bài, một phần là dịch. Thơ ông tôi thích hơn thơ Đông Hồ, Đông Xuyên, Quách Tấn, vì có nhiều thể (cả mới lẫn cũ), nhiều giọng, đa số là cảm khái, khi buồn thì ủ ê, khi thì trầm hùng, lại có lúc thanh thoát. Thỉnh thoảng có hình ảnh mới và thỉnh thoảng cũng dùng điển cầu kì. Mỗi giai đoạn, mỗi biến cố lớn trong đời ông đều được phản ánh trong tập Tấc lòng mà ông mới đánh máy mươi bản cho bạn hữu (không in) để ghi lại tâm tư của ông từ trẻ tới già.
Trên tôi đã chép ít bài của ông, dưới đây xin thêm hai bài nữa:

--TẢN CƯ (1947)
Mây xám đầu non, gió cửa rừng,
Hoang vu trước mắt, giặc sau lưng.
Câu thơ đêm viết, ngâm rồi xé,
Chén nước mình pha, nhấp lại ngừng.
Năm hết quê người, mưa xuống nặng,
Gươm treo đời loạn, bạn ngồi dưng.
Trông nhau, trông mái đầu chưa bạc,
Gằn giọng cười đau, nuốt lệ mừng.
 
RỜI THẦN KINH
(Gửi Nguyễn Văn Thư và Phan Du)
 
Cơn giông đâu nổi? Sóng nào reo?
An Cựu lùi xa, Bạch Mã theo
Trăng dựng muôn hình mây ngút ngút
Xanh chìm một vũng biển thiu thiu
Hương hoa xứ Huế đôi tình bạn,
Vũ trụ thầy Trang một cánh diều.
Hạt thóc thái thường vòng đại hoá
Chín ngàn cao vỗ mộng lăng tiêu.
 
Có lẽ lần đó là lần cuối cùng ông được hưởng cái vui hồn nhiên. Rồi giải phóng miền Nam.
Lúc này đây ông đương viết về đời Vương Duy.
Trong số mấy bài thơ chương này, tôi trích thơ ông nhiều hơn cả vì thơ ông chưa in thành tập, ít ai biết.
 
ĐÔNG XUYÊN
 
Đông Xuyên (Nguyễn Gia Trụ) với Giản Chi quen nhau từ hồi trẻ, tuổi xấp xỉ nhau - Đông Xuyên cùng tuổi với Đông Hồ, kém Giản Chi một tuổi. Gia thế như nhau, đều ở trong những gia đình nhiều đời đỗ đạt, quán ở làng Đông Ngạc tục gọi là làng Vẽ, một làng nổi tiếng về văn học gần Hà Nội, con cụ mền Tĩnh Trai; hồi nhỏ cũng học chữ Nho đến 16 tuổi rồi mới chuyển qua học chữ Pháp, ba năm đỗ Tiểu học, nhưng không học tiếp hết Cao đẳng tiểu học như Giản Chi, sau làm thơ kí Nha Quan thuế tới khi về hưu ở Sài Gòn.

Nhưng hai bạn đó trái ngược nhau về nhiều điểm: Đông Xuyên thấp, gầy, mắt sáng, chậm chạp, vẻ mặt khắc khổ, mặc áo dài thâm vào thì ai cũng bảo là thầy đồ; tính tình nghiêm cẩn, hơi câu nệ, sống rất giản dị, ít đọc sách, ít giao du, chỉ mê làm thơ mà thơ ông cũng rất cổ.

Ông tự xét ông: "Trong làng văn, có lẽ tôi là người có nết nhất: không dính tứ đổ tường, nhưng cũng là kẻ lạc hậu nhất: không biết đi xe đạp. Tính hay gắt gỏng, nhưng chân thật, bạn bè yêu".
Đúng: ông rất chân thật, thật như đếm nữa, mà cũng thật liêm khiết, đó cũng là điểm bạn bè quí, nhưng chắc cũng bị vài kẻ ghét vì có lần ông than:

"Nước mà trong quá, cá không ưa".
 
Việc nhà ông giao cho vợ hết, trái hẳn với thi sĩ Bàng Bá Lân, một bạn thơ của ông: họ Bàng tháo vát, dạy học bốn chục giờ một tuần, dịch sách, viết sách, chụp ảnh, giúp đài truyền hình một mình nuôi gia đình mười hai người, lại quán xuyến cả việc nhà; còn Đông Xuyên hết giờ ở công sở rồi về nhà nghĩ tới thơ.
 
Ông có thơ đăng trên An Nam tạp chí từ hồi hai mươi lăm tuổi và được Tản Đà khen; từ đó đến nay non nửa thế kỉ, ông đã xuất bản được bốn tập: Thuyền thơ, Gió nồm, Bến chiều, Tuyển tập thơ Hán Việt (dịch); ngoài ra còn vài tập nữa chưa in, tính ra cả sáng tác lẫn dịch được trên 600 bài.
 
Giản Chi phê bình thơ ông như sau:
"Anh say xưa cảnh đẹp thiên nhiên và nặng lòng trước những mảnh đời ngang trái. Và đọc thơ anh người ta thấy phảng phất cái tài bộ của một Vương Ma Cật và dạt dào một đồng tình của một Bạch Lạc Thiên". Mấy năm nay tôi thấy thơ ông có giọng Tú Xương nữa.
 
Ông ưa dùng thể thơ luật nhất, thỉnh thoảng làm một bài lục bát hay song thất lục bát. Thơ ông chỉnh, có nhạc, bài nào cũng xen cảnh vào tình, nhưng thiếu bề sâu, ý mới. Đặc biệt là ít dùng điển, ít dùng cả chữ Hán, rất có giọng Việt. Tình cảm của ông chỉ hiện phơn phớt, như được tiết chế theo đạo Nho rồi. Ông cổ điển mà Giản Chi lãng mạn. Ông có nhược điểm là rất ghét phong trào thơ mới thời tiền chiến, không chịu đọc một nhà nào cả.

Ông là sản phẩm "cuối cùng của đạo Nho ở Việt Nam". Không thể có một người khác như ông.
Tôi có may mắn giới thiệu hai tập thơ của ông: Thuyền thơ  Tuyển tập thơ Hán Việt, nên ở đây tôi khỏi chép thêm.
Tác phẩm của ông tôi giữ được đủ, thư của ông rất nhiều, cũng gần đủ.
 
QUÁCH TẤN - BÀ TƯƠNG PHỐ
 
Tôi biết danh Quách Tấn (bút hiệu là Trường Xuyên) từ lâu, nhưng quen ông chỉ trên mười năm nay. Vào khoảng đầu năm 1968, đọc cuốn Nước non Bình Định của ông, tôi viết một bài đăng trên tờ Tân Văn (1968) khen là tác phẩm có giá trị nhất trong loại Địa phương chí vì tài liệu đã dồi dào mà văn lại hay. Tôi khuyến khích ông viết một cuốn nữa về Nha Trang nơi ông đương ở. Ông nghe lời viết cuốn Xứ Trầm hương, cuốn này tôi thích hơn cuốn trên và giới thiệu trên tờ Tân Văn năm 1970: ông tả nhiều cảnh lạ ở Khánh Hoà, nhất là cảnh núi mà tôi chắc không ai tả hơn ông được.
 
Ít năm sau, ông bị bệnh Glaucome, một con mắt phải mổ, sợ con mắt còn lại cũng không được toàn, làm một bài thơ kể tâm sự với tôi. Tôi gởi đăng bài thơ đó trên tờ Bách Khoa, có ý mong độc giả, ai biết thuốc thì chỉ cho ông. Một độc giả ở Châu Đốc chép gởi toà báo một toa thuốc bắc gồm nhiều vị bổ âm, nhưng sau ông không phải dùng tới.
Từ đó chúng tôi thường thư từ với nhau và lần nào ở Nha Trang vào Sài Gòn ông cũng lại nói chuyện văn thơ với tôi vài giờ.
 
Ông hơn tôi hai tuổi, sinh ở Bình Định. Tổ tiên là người Trung Hoa, song thân đều biết chữ Hán, thân phụ đậu bằng Thành chung, làm công chức, ông cũng sớm đậu bằng Thành chung rồi ra làm thơ kí hành chánh để nuôi các em vì lúc đó song thân đã qui tiên. Nhờ giáo dục gia đình, ông biết chữ Hán, chữ Nôm, làm thơ, nổi danh từ hồi ngoài hai mươi tuổi, cũng như Đông Xuyên được Tản Đà khen.
 
Ông nhỏ người, thấp, lưng rất ngay, bước đi vững. Tính tự nhiên, thẳng thắn, khiêm tốn, vui vẻ, nhiều tình cảm, chơi thân với Hàn Mạc Tử, Chế Lan Viên, Bích Khê; người Bình Định gọi là Bàn thành tứ hữu. Ông có thể nói chuyện về thơ cả buổi mà không chán. Sự biểu biết của ông về thơ luật, về điển tích, ở Việt Nam có lẽ không ai bằng.
 
Ông là nhà thơ siêng năng nhất, sáng tác mạnh nhất. Ngoài bảy chục tuổi mà ngày nào cũng đánh máy suốt buổi được (ông viết bằng máy đánh chữ) cả khi ông giữ cháu nội, ngoại. Trong một bức thư ngày 20.12.79, nhân tôi hỏi, ông cho hay đã có non 1.500 bài thơ, trong số đó có khoảng 900 bài "cận thể": thất tuyệt, ngũ tuyệt, thất luật, ngũ luật; trên 400 bài lục bát từ 4 câu trở lên; và khoảng 200 bài thơ dịch. Chỉ có một số nhỏ đã được xuất bản trong các tập Mùa cổ điển, Mộng Ngân sơn, Đọng bóng chiều, Tố Như thi
 
Quách Tấn chuyên về thơ luật, tôi cho rằng từ đầu thế kỉ đến nay không ai có công với thơ luật bằng ông: ông có trên ngàn bài thơ luật, kể cả thơ dịch; lại chép hồi kí, phê bình hầu hết các nhà thơ luật nổi tiếng ở nước ta trong nửa thế kỉ nay, trước sau mấy chục nhà, gồm cả ngàn trang vẫn còn bản thảo; sau cùng, lại viết một tập dạy cách làm thơ luật (bố cục ra sao, dùng điển ra sao, phép đối ra sao), chỉ cho ta thơ thế nào là hay, thế nào là hỏng v.v. Tập đó dày khoảng 200 trang, viết kĩ hơn cuốn Để hiểu thơ Đường luật của Hư Chu nhiều, tiếc rằng không biết bao giờ mới in được.
 
Thơ luật ở nước ta, theo sử chép thì có từ cuối thế kỉ XIII, tới nay được bảy thế kỉ, tôi đoán nó sẽ chấm dứt ở đầu thế kỉ tới, cũng như thể Sonnet của Pháp ngày nay không còn ai làm nữa. Vậy ta có thể coi Quách Tấn là người cuối cùng có công với nó, người đầu tiên là Hàn Thuyên, người gây phong trào thơ Nôm ở đời Trần Nhân Tôn.
 
Ngoài ra ông còn có 15 bài văn tế, một bài được khắc lên bia trước đền thờ vua Quang Trung ở Bình Định, nhưng sau ngày giải phóng bia đã bị trát xi măng lên. Ông lại viết tiểu thuyết, dịch bộ Ngàn lẻ một đêm của Ả Rập; viết Địa phương chí, Danh nhân Bình Định, và mấy ngàn trang thi thoại, hồi kí, nghệ thuật làm thơ. Bản thảo của ông tới nay tới 20.000 trang đều để đó, ít ai ngờ nổi!
 
Thơ ông thỉnh thoảng có cảm xúc mới, ý mới, nồng nàn hơn thơ Đông Xuyên, một số bài gợi cảm và rất nổi tiếng như hai bài thơ dưới đây đều ở trong Mùa cổ điển:
 
ĐÊM THU NGHE QUẠ KÊU
Từ Ô y hạng rủ rê sang,
Bóng lẫn đêm thâu tiếng rộn ràng.
Trời bến Phong Kiều sương thấp thoáng,
Thu sông Xích Bích nguyệt mơ màng.
Bồn chồn thương kẻ nương song bạc,
Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng.
Tiếng dội lưng trời đồng vọng mãi,
Tình hoang mang gợi tứ hoang mang.
 
TRƠ TRỌI
Tình cũng lơ mà bạn cũng lơ!
Bao nhiêu khăng khít bấy ơ hờ!
Sầu mong rơi lệ khôn rơi lệ,
Nhớ gởi vào thơ nghĩ tội thơ.
Mưa gió canh dài ngăn lối mộng,
Bèo mây bến cũ quyện lòng tơ.
Hỏi thăm tin tức bao giờ lại,
Con thước qua sông lại ỡm ờ!
 
Thơ ông về già tự nhiên hơn nhưng vẫn giữ những nét chính thời 40 năm trước. Nhiều người trách thơ ông đẽo gọt và dùng nhiều điển quá. Ông bảo: 

"Thú thật là tôi làm thơ không đến nỗi "khổ công phu" như Giả Đảo (). Nhiều khi làm rất nhanh. Song sự thai nghén của thơ có phần lâu. Ngoài bài Đêm thu nghe quạ kêu, tôi còn nhiều bài khác mà cảm xúc và tình thơ nằm trong tâm hồn tôi trên dưới 10-15 năm như bài Ấp ủ trong Mộng Ngân sơn.
Sự dụng điển của tôi ai cũng tưởng tôi moi đầu moi óc ra để tìm điển. Trên thực tế không phải thế. Chính điển tìm tôi để phò tá" 
                                                                 (Thư cho tôi ngày 19.9.80)
 
Trong bài "Chung quanh bài Đêm thu nghe quạ kêu" viết ngày 4.8.63 (Bàng Bá Lân in vào tập Kỉ niệm văn thi sĩ hiện đại II, nhà XB Xây dựng), Quách Tấn cho biết ông thai nghén bài thơ đó ra sao. Một buổi tối cuối thu Đinh Mão (1927), trăng mờ mờ, từ bến đò An Thái, ven bờ sông Côn trở về nhà, qua một khúc đường vắng, ông nghe thấy một bầy quạ thình lình cất tiếng kêu vừa rùng rợn vừa lạnh lùng. Từ đó tiếng quạ kêu ám ảnh ông. Ba tháng sau, bà thân ông mất, tiếng quạ đó lại thành não nùng, héo hắt. Rồi bẵng đi 12 năm, năm 1939, một đêm trăng, nhân nghe một tiếng dội ở xa ngân dài ra, tiếng quạ năm xưa vụt thức dậy rộn ràng, nhưng dịu dàng chứ không rùng rợn như trước. Đêm đó ông thao thức, nhớ lại nhiều kí ức ()
 
Do tiếng quạ kêu mà ông liên tưởng đến màu đen, đến chữ Ô và ông nhớ bài Ô y hạng của Lưu Vũ Tích; rồi nhớ đến bến đò An Thái ông đã qua năm 1927 mà ông liên tưởng đến bến Phong Kiều của Trương Kế trong bài Phong Kiều dạ bạc; lại nhớ đến sông Côn mà liên tưởng đến dòng sông Xích Bích với con thuyền Tô Đông Pha, nhớ bài Tiền Xích Bích phú trong đó có dẫn câu "Minh nguyệt tinh hi, Ô thước Nam phi" của Tào Tháo; cứ hết điển này đến điển khác nối nhau đưa vào ông cõi mộng, và sáng hôm sau nữa ông làm xong bài Đêm thu nghe quạ kêu, như đã chép ở trên, chỉ khác câu 6 là: "Thắc thỏm chăng ai quả ấn vàng" (lúc bấy giờ quân Nhật ở Việt Nam, nhiều người đi lính để lập công danh, nhiều bà vợ bị chiếc bóng), và câu 8 là: "Tình lan man gợi tứ lan man".
 
Năm 1941, khi sắp in vào tập Mùa cổ điển, ông thấy không vừa ý hai câu đó, nên sửa lại là "Lạnh lẽo sầu ai rụng giếng vàng"  "Tình hoang mang gợi tứ hoang mang". Đó, ông thai nghén bài Đêm thu như vậy, từ 1927 đến năm 1941, 14 năm cả thảy.
 
Ông "nhiều khi làm thơ rất nhanh", điều đó tất đúng, có vậy ông mới làm được 1.500 bài; vả lại nhà thơ nào khi hứng tới thì cũng như thế cả. Ông không "khổ công phu" như Giả Đảo trong phái Quái đản đời Đường, điều này tôi chắc cũng đúng; nhưng bài Đêm thu làm xong rồi, hai năm sau mới sửa câu 6 và câu 8, thì ông cũng không khác Giả Đảo mấy: Giả Đảo "Lưỡng cú tam niên đắc", ông thì lưỡng cú nhị niên đắc. Và tôi nghĩ viết kĩ thì phải vậy.
 
Ông "không moi óc ra để tìm điển" mà điển tự nhiên tới. Điều đó dễ hiểu. Điển thường là do một ý, một vần hoặc một vài chữ trong câu gợi nên, ít ai vô cớ mà đưa điển vào thơ.
 
"Sự thai nghén có phần lâu", như bài Đêm thu, mất 14 năm. Phải. Nhưng chúng ta phải phân biệt: tiềm thức của ông đã thai nghén, chứ ông không suy nghĩ, tìm ý, tìm lời suốt 14 năm. Mà chuyện đó thì rất thường, như bài Hoa đào năm trước của tôi (Lá Bối - 1970) cũng có thể nói là thai nghén bốn chục năm: từ ngày tôi còn ở trung học, một ngày xuân thấy một thiếu nữ bên một gốc đào mãn khai; rồi năm 1942 hay 43, một đêm trăng qua Đèo Cả, thấy một cảnh đẹp cũng chỉ xuất hiện trong mươi giây như lần trước; rồi sau mười năm nữa (1952) cảnh một thiếu nữ bên một bụi hồng nhung nhắc lại cho tôi cảnh thiếu nữ bên gốc đào năm xưa; sau cùng mãi đến Tết Tân Hợi (1971) nhân nhớ tới câu:
---Aimez ce que jamais on ne verra deux fois
Nghĩa: Hãy yêu những gì ta không bao giờ gặp được hai lần.
của A. de Vigny, tôi mới viết bài đó nội trong một ngày. Những cảnh đẹp làm ta xúc động mạnh bao giờ cũng in sâu vào óc ta, nằm trong tiềm thức của ta, khi nào gặp cơ hội thuận tiện mới tái hiện trong hiển thức (conscient) và thúc đẩy ta ghi chép lại. Nhà văn, nhà thơ nào cũng nghiệm thấy điều đó.
 
Tóm lại cách sáng tác, cấu tứ của Quách Tấn là cách chung của mọi người cầm bút, nhưng ông là người đầu tiên tôi được biết, không giấu giếm gì cả, chép lại tỉ mỉ cho độc giả biết. Thường các nhà văn kị điều đó, cũng như thiếu nữ không muốn cho ai thấy mình tô điểm. Cho nên bài "Chung quanh bài Đêm thu nghe tiếng quạ kêu" đáng gọi là một tài liệu quí. Chính cách làm thơ của Đông Hồ tôi kể ở trên mới là đặc biệt.
 
Tôi không được đọc bản dịch Nghìn lẻ một đêm của Quách Tấn. Văn kí sự, tả cảnh của ông hay như trong hai cuốn Địa phương chí về Bình Định và Nha Trang. Xét chung, văn xuôi của ông cũng thường dùng nhiều điển, nhiều chữ Hán, và khi nào ông viết tự nhiên thì văn linh động và có duyên.
 
Tôi còn nhớ một bài hồi kí 9-10 trang (chưa in) ông viết về nữ sĩ Tương Phố. Tôi chưa hề gặp nữ sĩ một lần nào mà đọc văn ông, tôi thấy chân dung bà hiện rõ trước mặt tôi, lanh lẹ, vui vẻ, tự nhiên, cứng cỏi, có nhiều nét đàn ông; nghe được cả giọng nói của bà nữa mà tôi đoán là sang sảng, dí dỏm, thân mật; cảm tưởng đó y hệt như tôi đọc thư bà, bức thư duy nhất bà gởi cho tôi, vài năm trước khi bà mất.
 
Bức thư đó gồm ba tờ nhỏ bằng pelure màu xanh lá cây và màu xanh da trời, tôi trân tàng, nhưng cũng chép lại đây, sợ nguyên bản có thể thất lạc. Năm đó, 1966, tôi nhận được một tập bà viết cho nhi đồng, tôi viết thư cảm ơn và tặng bà 2 cuốn tôi mới xuất bản. Bà hồi âm liền:
 
Nha Trang, đầu mùa sen năm Mậu Thân - 29.4.68.
Bút đàm với Hiến Lê,
Đã hân hạnh tiếp "Mấy vấn đề xây dựng văn hóa" và "Kiếp người", xin trân trọng kính lời cảm tạ Tác giả và Dịch giả ạ.
Đèn khuya có những đêm say sách,
Hội tâm linh với khách cổ kim.
Trần ai tri kỉ khó tìm,
Cô đơn với sách mặn duyên tinh thần.
Trong những sách cổ kim ấy không phải là không có Hiến Lê - Phố này hoàn toàn cô đơn ở Nha Trang. Chỉ lấy sách làm duyên, nên khoảng tinh thần gặp gỡ Hiến Lê cũng đã nhiều.
Cảm phục và quí Hiến Lê không lời kể xiết. Thật vậy, Hiến Lê là một học giả uyên bác, đọc rộng hiểu nhiều với khối óc bao quát vũ trụ, với cặp mắt lịch lãm nhân hoàn. Lại là một cây viết rất mềm dẻo, rất vững vàng, thẳng thắn, có tài và thiết tha yêu tiếng Việt mẹ đẻ - sốt sắng với vấn đề xây dựng văn hóa nước nhà - Lo xa đến cả tương lai học vấn của thanh niên toàn quốc.
Chao ơi, giữa đời loạn này, văn sử Việt Nam phỏng mấy Hiến Lê?
Hoang mang trước hoàn cảnh non sông mưa gió, tất cả chúng ta cùng sống bấp bênh không ngày mai. Nước Việt Nam sẽ đi về đâu đây? Thời qian trả lời ư, buồn lắm!

Anh hùng dân tộc có ai không?
Thắng lợi năm chờ mỏi mắt trông
Loạn khắp sa trường phơi vết máu,
Tham bao tâm địa vẩn hơi đồng.
Đạn bon xáo trộn bầu trời đất,
Tang tóc âm thầm cảnh núi sông.
Nỗi nước tình quê bao thắc mắc,
Muôn vàn tâm sự dưới trời Đông.
                                             T.P
 
T.P buồn đời loạn nên có mấy vần thơ ấy. Nhưng không bao giờ mong Hiến Lê trở nên một vị anh hùng Dân tộc qua súng gươm đâu. Chiến tranh tuy đang gắt gao khiến Hiến Lê có lúc đã vẫn vơ nghĩ: "bọn cầm bút chúng ta làm được những gì lúc này?". Song, đâu cứ phải súng gươm hăng hái ra sa trường mới là yêu nước. Chính Hiến Lê mới thực nặng lòng nước non đó!
Nhưng thôi, bút đàm bấy nhiêu tạm đủ, Phố xin phép ngưng bút đây; và xin chúc văn hào Nguyễn Hiến Lê luôn dồi dào sức khoẻ và nghị lực để mạnh tiến trên đường văn nghiệp.
                                                                                          Tương Phố
 
Lời văn và lời thơ đều là của thời Nam Phong, chỉ có mỗi một chữ - chữ qua - trở thành một vị anh hùng Dân tộc qua súng gươm - là mang chút dấu vết của thời đại chúng ta.
Tuy dùng nhiều chữ sáo - thói quen của thời trước - nhưng chân thành, thân mật: ngay đầu thư đã gọi thẳng tên tôi: "Bút đàm với Hiến Lê"; rồi lại chữ nữa ở cuối câu đầu.

Tôi kém bà non mười tuổi, chỉ đáng là em út của bà, lại bước lên văn đàn sau bà xa lắc xa lơ, mà bà coi tôi như bạn.
Phải coi nét bút mới thấy tính tình của bà: mềm mại, nhanh, tươi, nhưng những chữ T, H, N, K rất cứng, cương quyết; dấu huyền như lưỡi gươm, mạnh nhất là đưa một nét ngang dài - như vung tay ra - để thay dấu chấm câu.

Đọc thư xong, tôi nghĩ: Bà cụ này đa cảm nên mới có Giọt lệ thu, nhưng tính tình đúng là đàn ông, cương quyết hơn đàn ông nữa, cá tính thật đặc biệt. Đời vất vả là phải.
Ít năm sau bà lên Đà Lạt ở với con trai và mất trên đó.

Bài hồi kí về Tương Phố của Quách Tấn với bức thư đó của bà là những tài liệu quí để người sau hiểu bà và văn nghiệp của bà.
Nhân đây, tôi chép thêm một đoạn trong bức thư ngày 20.12.79, Quách Tấn nói với tôi:

"Tôi thường nói cùng Châu Hải Kỳ rằng nội việc đọc sách của anh cũng đã khó có người theo kịp chứ đừng nói đến chuyện đọc rồi còn "tiêu", tiêu rồi còn viết. Anh gầy là phải. Và C.T. ví anh với khóm lão mai thật đúng vì chỉ có lão mai mới ra thạnh hoa dưới trời đông lạnh lẽo ().
"Không biết Châu Hải Kỳ "vẽ chân dung anh" có "vẽ" được phong cốt chăng? Tôi chưa đọc bản thảo. Nói về văn và nói về người trong "gương văn chương" chưa thú bằng nói về "văn trên người" và nói về người trên ngôn ngữ, thái độ, cử chỉ hàng ngày của người ấy. Phải vẽ truyền thần mới lột hết "ý nghĩa" của tập thơ sống Nguyễn Hiến Lê.
"Tôi đã "đọc" được nhiều "tập thơ sống": Tản Đà, Hàn Mạc Tử, Đông Hồ, Bích Khê, Nguyễn Hiến Lê và Tương Phố. Một tập thơ ít chất thơ nhất là bà chị Tương Phố của tôi. Cụ Thúc Gia Thị cũng là một tập thơ nhiều thú mà ít vị. Vũ Hoàng Chương hương sắc thắm song hương vị không được tươi thanh.
Muốn thành "tập thơ sống" phải có đời sống nên thơ.
Đời sống của anh là "Hương đạm vị nồng", cho nên "cái đẹp" nơi anh là "dư vị". Mà cái vị của anh là của nước thanh tuyền - có "ế ẩm" mới "tri chân vị". Nếu khách thích sâm banh, uýt ky, cà phê, sửa bò thì chả thấy vị thì chứ đừng nói tới "dư vị".
Có lẽ ông muốn nói như Võ Phiến rằng tôi "vốn phong độ nghiêm chỉnh, dù với kẻ thân cũng không quá vồn vã; tuy nhiên đối với bạn thân thật chí tình!". Nếu vậy thì đúng.

Trong thư ngày 27.4.80, ông lại viết:

"Văn anh có giọng phong lưu thật đấy.
Văn anh giống anh như hình với bóng:
Nếp phong lưu của anh khác hẳn Đông Hồ. Anh Đông Hồ có vẻ phong lưu của hoa cẩm nhung, hoa thược dược. Vẻ phong lưu của anh là vẻ phong lưu của khóm mai già bên bờ suối, cành khẳng khiu, hoa lác đác. Nhìn vào gốc vào nhánh thì "khắc khổ" như một nhà sư ăn chay trường, song có nhìn xuống mặt suối mới thấy rõ văn thái phong lưu, có nhìn lên trên không mới ngửi thấy ám hương phù động".

Thư của ông tôi giữ gần đủ, đã khá nhiều rồi. Ông cũng gởi tôi một số bản thảo.
 
VI HUYỀN ĐẮC
 
Một bạn già nữa, hơn tôi chín mười tuổi, giỏi Pháp văn, biết nhiều chữ Hán, gốc Trung Hoa, quê ở Móng Cái, năm 1954 di cư vào Sài Gòn, là Vi Huyền Đắc. Ông không làm thơ, chuyên viết kịch và dịch sách, nổi tiếng trước thế chiến về kịch Kim tiền, có viết kịch Eternels regrets bằng tiếng Pháp về Dương Quí Phi, được giải thưởng Hàn lâm viện Nice; sau thế chiến sáng tác kịch Thành Cát Tư Hãn.
 
Thời trẻ có hồi ông làm thầu khoán ở Hải Phòng, rất phong lưu; từ khi vào Nam, ông bà gần như ở ẩn trong một căn nhà gỗ tại ngã năm Bình Hoà trong Gia Định: ông dạy môn kịch vài năm ở Viện Âm nhạc, và dịch truyện Trung Hoa của Quỳnh Dao, Lâm Ngữ Đường, kịch của Marcel Pagnol; còn bà thì dạy trường tiểu học Đa Kao.
 
Sau khi bà mất, ông sống cô độc, mặc dù có con trai, con dâu, cháu nội ở Sài Gòn, chỉ buổi trưa mới có đứa cháu đem cơm vào cho ông rồi về, sáng và chiều ông ăn tiệm. Ông rất thích bạn văn, gặp thì mừng lắm nhưng ông ở xa quá, chúng tôi ít vô được.
 
Tính tình xuề xoà, cởi mở, ai cũng quí. Vài nhà xuất bản lâu lâu in cho ông một tác phẩm, nhờ vậy tạm đủ sống.
Ông nói đã bắt đầu soạn bộ Tự điển Việt Nam rất kĩ, mới tới chữ C được 5.000 trang rồi ngưng luôn. Kịch của ông khá hay; các bản dịch của ông rất công phu, chuyển khéo qua tiếng Việt, nhưng dịch tiểu thuyết Trung Hoa ông lại ưa giữ nhiều danh từ Trung Hoa, mặc dù có tiếng Việt tương đương. Ông bảo như vậy là để làm giàu tiếng Việt.
 
Sau ngày giải phóng ông còn sống cô độc hơn nữa vì con trai ông ở Sài Gòn đã qua Pháp; hai nhà văn trẻ Triều Linh và Hoàng Hương Trang lại ở với ông cho vui.
 
Năm 1976, một con trai ông làm bác sĩ ở Hà Nội vào đón ông ra Bắc sống, ông không muốn đi, bảo: "Bạn bè tao ở cả trong này, ra ngoài đó có bạn nào đâu?". Ông té gãy xương hông, tuổi quá cao, xương không lành được, con ông đưa ông ra Hà Nội bằng máy bay. Được ít tháng sau, nghe tin ông mất ngoài đó, bạn văn ai cũng nhớ tiếc.
 
PHẠM PHÚ HOÀI MAI
 
Một bạn già nữa là Phạm Phú Hoài Mai, hơn tôi nhiều tuổi, hậu duệ của cụ Phạm Phú Thứ, quê ở Quảng Nam vào Sài Gòn dạy trường tư.
Tính tình chất phác, đôn hậu, đã xuất bản được hai tập thơ, đủ các thể: luật, lục bát, thơ mới, lời không chuốt, nhưng nguồn hứng phong phú, cảm xúc chân thành dạt dào tình nhà, tình nước, tình yêu thiên nhiên, thương người nghèo khổ. Ông nhờ tôi đề tựa cho tập Thơ Mùa loạn chưa in được. Hai năm nay vắng tin tức ông.

Tôi ghi lại vắn tắt ở đây hai ông bạn già nữa không thực là nhà văn, một người là Tùng Tử, hơn tôi khoảng mười tuổi, một người là Học Năng hơn tôi vài tuổi.
 
Tùng Tử không biết tiếng Pháp, chữ Nho giỏi, làm thơ Việt và Hán, lời nhẹ nhàng, có ý vị triết. Học Năng ở trường Sư phạm Hà Nội ra, làm hiệu trưởng nhiều trường Tiểu học, chữ Hán khá, thích làm thơ châm biếm nhẹ, cả hai đều thạo môn bói và môn số Tử vi, Tử Bình, Hà Lạc. Tùng Tử còn biết thêm môn Đông y chỉ để giúp đời. Học Năng đã xuất bản cuốn Bát tự Hà Lạc.
Cả hai hồi trẻ đều hoạt động cách mạng, từ khi di cư vô Sài Gòn, đều buồn về thời cuộc, nóng lòng với tương lai dân tộc, ngày nào cũng ngóng tin tức, tìm những lí do để hi vọng sắp có sự thay đổi.
 
LÊ NGỌC TRỤ
 
Bạn trong Nam dễ thương nhất là Lê Ngọc Trụ, hơn tôi một tuổi. Ông thật là một học giả cần cù, rất khiêm tốn. Chưa học hết ban Cao đẳng tiểu học thì thôi; nhờ giáo dục gia đình mà thông chữ Hán, lại biết nói tiếng Quảng Đông, nhất là nhờ công tự học, tìm tòi mà cống hiến cho quốc dân một bộ Việt ngữ chánh tả tự vị mà tất cả học giả Việt, Pháp đều công nhận là một công trình có giá trị về ngôn ngữ học. Giáo sư Gaspardone ở Paris giới thiệu cuốn đó cùng với bộ Khảo luận về ngữ pháp Việt Nam trong một tạp chí ở Thuỵ Sĩ tôi đã dẫn ở trên.
 
Ông rất tốt với bạn. Hồi còn làm thư kí Thư viện ở đường Gia Long, ông thường kiếm giùm tài liệu cho bạn văn. Sau ông thôi giúp việc ở Thư viện, anh em chúng tôi không muốn tới đó nữa. Đúng như Nguyễn Hữu Ngư nói, ông là linh hồn của Thư viện, vì không sao kiếm được người hiểu rộng, biết sâu về sách báo mà chịu khó giúp người muốn biết như ông.
 
Khi ông soạn xong bộ Chánh tả, tôi giới thiệu với nhà xuất bản Thanh Tân và nhà này vui vẻ nhận, mặc dầu biết công việc ấn loát rất khó khăn. Bộ đó được giải thưởng Văn chương toàn quốc và một hai năm sau ông được mời dạy môn Chánh tả Việt ngữ ở Đại học Văn khoa Sài Gòn.
 
Ông tính soạn tiếp bộ Tự vị ngữ nguyên Việt Nam, cho nên sau giải phóng, ông thôi dạy Văn khoa, để trọn thì giờ vào công việc đó. Nhưng sức ông suy, chưa kịp hoàn thành thì mất ở Chợ Lớn năm 1979, để lại một tủ thẻ.
 
NGUYỄN BẠT TUỴ
 
Một nhà ngôn ngữ học nổi tiếng nữa là Nguyễn Bạt Tuỵ, quê ở Bắc, năm nay ngoài sáu mươi tuổi. Cao lớn, khoẻ mạnh, ở độc thân, chỉ tự học mà rất giỏi về ngữ âm học, được vài cơ quan văn hóa Pháp rồi Mĩ biết tài, trợ cấp cho mỗi tháng một số tiền để ông khảo về ngôn ngữ các dân tộc thiểu số miền núi từ Pleiku, Kontum vào. Trong mấy chục năm ông gom góp được rất nhiều tài liệu: từ vựng, phim ảnh, băng thu âm về các ngôn ngữ đó. Sau ngày giải phóng, chính phủ Cách mạng cho ông ở một biệt thự tại Đà Lạt, trợ cấp mỗi tháng một số tiền. Ông viết được khá nhiều nhưng in được rất ít, trước sau chỉ được một cuốn mỏng đề nghị cải thiện vần Quốc ngữ viết từ hồi trẻ, và ít bài báo, vì công trình của ông có tính bác học, rất khó in và phổ biến.
 
Ông có hùng tâm cải tổ Việt ngữ: bao nhiêu danh từ Hán Việt cấu tạo theo ngữ Pháp Trung Hoa ông đề nghị bỏ hết mà cấu tạo lại theo ngữ pháp Việt.
 
Từ ba bốn chục năm nay đã có xu hướng đó: chúng ta không viết như các nhà cựu học: Trung Quốc văn học sử đại cương, mà viết: Đại cương văn học sử Trung Quốc hoặc Đại cương sử văn học Trung Quốc. Nhưng thi hành ngay một cách triệt để như ông mà viết: học trung, học đại, hội xã thay vì trung học, đại học, xã hội thì nhiều khi tối nghĩa và chói tai, nên không ai theo ông, trừ mỗi một người, ông Lê Văn Hảo ở Đại học Huế (sau vụ Mậu Thân ông ra bưng theo kháng chiến).
 
Mỗi năm ở Đà Lạt ông Tuỵ xuống Sài Gòn độ một hai lần, thường lại thăm tôi. Rất tự tin và nhiều cạnh góc nên ít bạn.
 
TRƯƠNG VĂN CHÌNH
 
Trong một chương trên tôi đã nhắc nhiều tới ông, ở đây là nói thêm: ông quê ở Bắc Ninh, học ở trường Bưởi trước tôi ít năm, rồi làm sở Bưu điện, chức Thanh tra, năm 1945-46 dự các hội nghị Đà Lạt, Fontainebleau; 1954 di cư vào Nam làm Giám đốc Bưu điện Nam Phần, khảo về ngữ pháp Việt Nam, nổi tiếng. Ông có đức tự trọng, tự tin. Ông mất năm 1983 ở Pháp sau khi qua bên đó đoàn tụ với con cháu được một năm.
 
VƯƠNG HỒNG SỂN
(Sển là giọng Phúc Kiến của chữ mà ta đọc là Thịnh)
 
Vương Hồng Sển, bạn thân của Lê Ngọc Trụ, cũng là một học giả nổi tiếng. Ông có ba dòng máu trong người: Việt, Hoa, Miên, quê ở Sóc Trăng, năm nay 79 tuổi, tóc bạc phơ, vẫn còn mạnh. Giỏi tiếng Pháp, chuyên khảo về đồ cổ Trung Hoa, Việt Nam; về lịch sử miền Nam (cuốn Sài Gòn năm xưa của ông rất có giá trị); về ca nhạc miền Nam, đặc biệt là những tuồng cải lương; gần đây mặc dầu gần 80 tuổi mà vẫn cặm cụi mỗi ngày tám chín giờ tra cứu các sách để làm một bộ Tự điển Tiếng Việt miền Nam. Ông đã lập được hai ba ngàn thẻ. Công việc rất khó, và ông là người đủ tư cách để làm hơn cả vì biết nhiều miền, biết nhiều tên Miên và Trung Hoa và nghĩa tiếng Việt trong Nam, lại có nhiều sách cổ. Có hồi ông dạy Đại học Sài Gòn, Huế. Văn ông chịu ảnh hưởng nhiều của Trương Vĩnh Ký, có giọng hồn nhiên, bình dân của người Nam, dùng nhiều tiếng cổ địa phương, trái hẳn với Đông Hồ.
 
Biệt thự của ông ở Gia Định là một ngôi nhà cổ của tư nhân, chứa rất nhiều đồ cổ; sách quí chứa đầy chín mười tủ, vậy mà hiện nay ông vẫn mỗi tuần một hai lần xách ba toong từ Gia Định ngồi xe lam ra Sài Gòn, lại chợ sách cũ ở đường Cá Hấp để mua những sách hiếm, dù giá rất cao. Ông đã xuất bản ba cuốn sách dày về đồ cổ, viết cả ngàn trang hồi kí chưa in.
 
Ông rất quí thời giờ, nên có người tưởng lầm ông khó tính; thực ra đối với bạn văn đứng đắn thì luôn luôn vui vẻ tiếp đãi, bỏ cả buổi để cho coi đồ cổ và giảng về thời đại, giá trị của mỗi món. Mỗi cuốn sách, mỗi món đồ cổ của ông đều đánh số, ghi sổ và có một thẻ riêng. Tới lần nào cũng mê nghe ông kể hồi kí hàng giờ. Sức ông còn mạnh, kí tính của ông còn tốt, ông chưa dùng tới một nửa những hiểu biết của ông về miền Nam. Tôi mong ông sống được mươi năm nữa, ghi chép thật nhiều cho đời sau.
 
Trước ngày Giải phóng, chúng tôi vì mỗi người theo một đường riêng, nên ít gặp nhau. Từ 1976, ông thường ghé tôi mỗi khi ra Sài Gòn kiếm sách cũ, cho nên càng ngày càng thân. Biết tôi thích loại nào, ông chịu khó đem cho tôi đọc. Tôi quí ông, và lâu không gặp thì nhớ.
 
- Một học giả nữa, chuyên về sử miền Nam là giáo sư Lê Thọ Xuân. Ông quê ở Bến Tre, sinh trong một gia đình nho học, nên thông cả chữ Pháp và chữ Hán. Trước thế chiến, viết nhiều bài có giá trị khảo về sử. Trong cuộc kháng Pháp, tài liệu mất hết, từ đó ông chán nản, không viết lách gì nữa. Tôi quen ông từ khi ông coi nhà in Maurice, in sách cho nhà Phạm Văn Tươi. Ông rất chú trọng đến chánh tả như các học giả chân chính. Ông mất cách đây hai hay ba năm. Công trình cuối cùng của ông là hiệu đính truyện Lục Vân Tiên; học giả nào cũng nhận tập đó có giá trị.
 
Bác sĩ Lê Văn Ngôn, em ruột ông, được ông chỉ bảo, hướng dẫn nên chỉ trong vài năm thành một nhà văn có tiếng, chuyên phổ biến kiến thức y khoa.
 
NGUYỄN VĂN HẦU
 
Nhỏ hơn tôi 7-8 tuổi, quê ở Cù Lao Giêng (Long Xuyên) ngang Mĩ Luông, chữ Hán, chữ Pháp đều thông, theo đạo Hoà Hảo, nhưng không làm chính trị, chỉ nghiên cứu kinh giảng của Thầy Tư, điều khiển tờ Hoa Sen của tín đồ trong đạo, thường đi thuyết giáo ở các làng, quận miền Tây, được tín đồ tiếp đón long trọng, do đó chính quyền Thiệu cũng trọng nể.
 
Tính tình điềm đạm, nhũn nhặn, siêng năng. Vừa dạy học, vừa giúp việc đạo, vừa khảo về các di tích, danh nhân trong miền Long Xuyên - Châu Đốc; bốn cuốn có giá trị nhất của ông là Đức Cố Quản (một vụ khởi nghĩa ở Long Xuyên, Châu Đốc thời Pháp thuộc), Chí sĩ Nguyễn Quang Diêu (một nhà cách mạng ở Cao Lãnh trong những năm giữa hai thế chiến), Thoại Ngọc Hầu, và Nửa tháng trong miền Thất Sơn.

Ông đọc cuốn Đông Kinh nghĩa thục và cuốn Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười của tôi rồi làm quen với tôi, nhờ tôi đề tựa cho cuốn Nguyễn Quang Diêu, cuốn này được giải nhì Văn chương toàn quốc môn biên khảo. Ông làm việc cẩn thận, thu thập được nhiều tài liệu. Ông thường lại thăm tôi khi tôi về Long Xuyên. Hiện nay ông bị bệnh, tê liệt, không dạy học, viết lách gì được.
 
PAUL SCHNEIDER
(Bút hiệu Xuân Phúc)
 
Người Pháp lai Việt, sinh trưởng ở Hà Nội, làm sở Kho bạc. Tính tình tốt, giỏi tiếng Pháp và tiếng Việt. Tôi quen ông khi ở Long Xuyên lên Sài Gòn. Sau ông rời Việt Nam, qua làm việc ở châu Phi, ở Madagascar, về hưu ở Pháp, gần Nice.
 
Đã xuất bản hai tập thơ Pháp: A deux voix, La mer bouddhique, dịch chung với Nghiêm Xuân Việt Truyện Kiều ra tiếng Pháp (Unesco in), viết cuốn Anthologie de la poésie Vietnamienne. Từ khi về hưu ông học thêm chữ Hán, nghiên cứu tiếng Nôm, thường thư từ với tôi. Đã có ba tác phẩm về chữ Nôm: Nguyễn Bỉnh Khiêm do Société des Etudes Indochinoises (Sàigòn) in trước 1975; Les idéogrammes Vietnamiens (Đại học Nice xuất bản - 1979) và Nguyễn Trãi in ở Pháp. Ông dạy (chữ Nôm hay tiếng Việt?) ở Đại học Nice.
 
NGUYỄN ĐĂNG LIÊN
 
Tôi đã cảm động khi một ông già lại thăm tôi vào một buổi chiều, tự giới thiệu là Nguyễn Đăng Liên, gần tám chục tuổi, xuất thân từ trường Đại học Dược khoa Hà Nội, khoá đầu hay thứ nhì, về hưu từ lâu, chuyên khảo cứu chữ Hán, lùn, to xương, còn khoẻ mạnh, sáng suốt. Ông đưa cho tôi một tập khoảng 500 trang đánh máy, một phần bộ Chữ Nho tập giải ông đã viết xong, nhờ tôi đọc, cho ý kiến và giới thiệu cho một nhà xuất bản.
 
Tôi lật qua, trả lời ngay ông rằng trong tập có rất nhiều chữ cổ, nhiều dấu, không nhà in nào trong nước có sẵn, phải khắc cây tốn kém lắm; vả lại in ra thì không chắc bán được vài chục bộ, tôi e ngay Nha Văn hoá cũng không dám in chứ đừng nói các nhà xuất bản tư nhân. Chỉ có cách đánh máy, viết chữ Hán rồi quay ronéo lấy độ một trăm bản, mà như vậy cũng tốn lắm.
 
Nhưng tôi sẵn lòng đọc bản thảo. Tôi hẹn một ngày, ông trở lại, tôi góp với ông vài ý về phương pháp nghiên cứu cùng cách trình bày, ông nhận là đúng. Sau cùng tôi khuyên ông nên gởi dự thi Giải thưởng văn nghệ toàn quốc năm 1971. Ông nghe lời, được giải Khuyến khích, và tính bỏ tiền ra in lấy; chưa kịp in thì Sàigòn được giải phóng. Nghe nói hiện nay ông còn sống.
 
ĐÀM QUANG HẬU
 
Một vị nữa, ông Đàm Quang Hậu, anh bác sĩ Đàm Quang Thiện, lớn tuổi hơn tôi, cũng nghiên cứu lâu năm về chữ Hán, soạn chung với một người bạn bộ Hán tự cơ bản gồm hai quyển: quyển I: Văn tự học khái yếu, quyển II: Tự nguyên. Ông có nhiều ý kiến mới về cách trình bày lại Tự điển Trung Hoa, về sách học chữ Hán, quay ronéo được quyển I rồi ngưng, chắc vì tốn kém quá. Công trình của ông Hậu thiết thực hơn của ông Liên, có giá trị hơn. Ông cũng đề nghị cách hợp lí để sắp xếp chữ trong Tự điển Việt ngữ. Ông là một học giả chân chính.
 
Trong nước chắc còn nhiều người kiên nhẫn, âm thầm nghiên cứu về ngôn ngữ, văn tự chỉ vì sở thích chứ không vì danh lợi. Khi Nha Văn hoá lập một Uỷ ban điển chế Văn tự, tôi góp ý với một người bạn trong ban nên tìm kiếm, thu thập công trình của những vị đó, xem công trình nào có thể dùng được một phần, công trình nào nên khuyến khích Đề nghị đó không ai nghe và bây giờ số bản thảo giữ được, không bị đốt hoặc bị mối ăn, còn được bao nhiêu?

CÁC BẠN TRONG NHÓM BÁCH KHOA
 
Ba bạn thân của tôi trong toà soạn Bách Khoa là Nguyễn Hữu Ngư, nhiều tình cảm; Lê Ngộ Châu, tốt với bạn, có lương tri, siêng năng, đứng đắn; và Võ Phiến, vừa có tài vừa có tư cách. Tôi đã nhắc nhiều tới ba bạn đó ở trên.
 
Tôi quí Võ Phiến nhất. Ông tên thật là Đoàn Thế Nhơn, quê ở Bình Định, hồi trẻ được Đào Duy Anh khen có khiếu về văn. Gia đình ông chắc có truyền thống văn hóa, một người em ông bút hiệu là Lê Vĩnh Hoà, theo kháng chiến, viết truyện ngắn nhưng không sâu sắc bằng ông, chết trước năm 1975.
 
Ông hiền lành, dí dõm, lễ độ, thành thực, trọng tôi như anh. Tình ông đối với tôi rất kín đáo. Trước ngày giải phóng độ mươi bữa, ông lại từ biệt tôi, nhờ tôi giữ một số tác phẩm đã in của ông, và cho hay đã gởi các bản thảo chưa in cho Nguyễn Mộng Giác, cùng quê ở Qui Nhơn cũng có tài viết truyện. Khi chia tay tôi xúc động rơm rớm nước mắt. Võ Phiến bảo sẽ trở lại, nhưng sau đó ông đi luôn. Nghe nói ở Mĩ ông viết một bài báo khuyên các bạn Việt kiều giữ truyền thống Việt, lời tất cảm động.
 
ĐOÀN THÊM
 
Cũng viết nhiều cho tạp chí Bách Khoa. Ông là một công chức siêng năng, liêm khiết, và thích làm văn hoá, có một hai tập thơ, vài tập khảo cứu về hội hoạ, mĩ học, văn học, ba bốn tập sử biên niên từ 1964 đến 1970, 1971. Đọc nhiều, làm việc có phương pháp, lí luận minh bạch. Tránh những vấn đề chính trị. Từ 1977 ông thường lại chơi tôi.

Sau khi bộ Văn hoá tuyên bố Giải thưởng tuyên dương sự nghiệp, văn hóa nghệ thuật, ông bảo Quốc vụ khanh Mai Thọ Truyền: "Ông Nguyễn Hiến Lê mới là người xứng đáng nhất".
Ông không biết rằng chính tôi từ chối, không chịu để cho bạn giới thiệu "sự nghiệp" của tôi với ban tuyển trạch.
Ông thuộc một gia đình danh tiếng đất Bắc, con cụ Đoàn Triển, quê làng Hữu Thanh Oai, huyện Hoàng Long (Hà Nội). Có vẻ khắc khổ, trị gia nghiêm, giữ được truyền thống của nhà Nho, tự trọng, trung hậu.
 
TRẦN THÚC LINH
 
Quê ở Hưng Yên, cũng là một công chức cao cấp, lanh lợi, có lí tưởng, nhiệt tâm, có nhiều sáng kiến, thích làm chính trị, soạn được vài tập phổ thổng luật và một bộ Tự điển về luật. Rất sốt sắng giúp bạn.

CÁC BẠN KHÁC

Hai bạn nữa tôi biết kha khá, và đều có cảm tình với tôi là Châu Hải Kỳ và Dã Lan.
 
Tôi gặp Châu Hải Kỳ lần đầu vào năm 1973. Ông người bé nhỏ, gân guốc, mắt sáng, hiền lành, thành thực, đa cảm, quê miền Trung (tôi không nhớ là Quảng Nam hay Bình Định), đậu Tú tài Pháp, kém tôi khoảng mười tuổi, dạy văn ở trường Trung học công giáo ở Nha Trang, tận tâm, được học trò kính mến, rất thích văn chương, đọc nhiều sách, thỉnh thoảng đăng bài trên một số tạp chí, nhất là tạp chí giáo dục. Ông tính chuyên về viết tiểu sử các nhà văn như Vi Huyền Đắc, Quách Tấn, Võ Phiến, Bình Nguyên Lộc Mới viết được một cuốn về Nguyễn Hữu Ngư, bạn thân của ông, nhờ tôi đề tựa, chưa kiếm được nhà xuất bản. Ông viết tiếp cuốn thứ nhì về tôi, mới xong bản thảo thì miền Nam thay đổi chế độ, thế là nguyện vọng của ông đành tạm bỏ. Ông rất buồn.
Hiện nay ông làm ở Ty Giáo dục Phú Khánh, và dạy học ở Nha Trang, để nuôi mấy đứa con.

Lần đó (năm 1973) ông từ Nha Trang vào phỏng vấn tôi để viết về tôi. Tôi ngạc nhiên thấy ông đọc đủ các tác phẩm của tôi (non 100 cuốn) mà đọc rất kĩ nên biết rõ về đời tôi còn hơn một số người thân của tôi nữa mặc dù chưa gặp tôi lần nào.
 
Đầu năm 1975 viết xong tiểu sử của tôi, ông gởi cho tôi xem có sai chỗ nào không và dặn tôi coi xong, đưa cho ông Lê Ngộ Châu, tạp chí Bách Khoa. Lê Ngộ Châu đọc xong đưa cho Võ Phiến và Võ Phiến đã viết bài giới thiệu "xổi" trên Bách Khoa số 426 ngày 2.4.75.
 
Võ Phiến đã khen ông viết kĩ, rất tường tận, từ thân thế đến sự nghiệp của tôi lại có những nhận xét rất tinh tế, chẳng hạn về bút pháp của tôi, về tài viết Tựa của tôi; và trong lịch sử văn học nước ta, từ trước hình như chưa có bộ truyện kí nào về danh sĩ mà dày hơn.
 
Giá ông Châu Hải Kỳ viết xong trước độ sáu tháng thì có thể in được rồi, mà ông không đến nỗi phải ôm hận. Làm nghề cầm bút cũng phải có số, cần gặp thời.
Tập đó sau ông đánh máy, gởi cho tôi hai bản, năm 1980 tôi gởi được một bản cho vợ con tôi ở Paris.
 
Tôi quen Dã Lan (tên thật Nguyễn Đức Dụ, quê ở Hải Dương) mới từ mấy năm nay. Ông ở Bắc vô Nam đã lâu, trước hiệp định Genève, làm một vài nghề rồi sau Quản thủ thư viện cho trường Đại học Kiến trúc Sàigon. Để hết thì giờ vào việc nghiên cứu ngành Gia phả, đã soạn được một bộ dày khoảng 500 trang, quay ronéo vài trăm bản, bán trong nước và gởi tặng thư viện vài nước lớn: Pháp, Mĩ, Nhật, được học giả ngoại quốc khen là công phu.
 
Từ 1975, ông suốt ngày đạp chiếc xe đạp cũ đi tìm tài liệu, phỏng vấn các gia đình danh tiếng, nhất là gia đình văn nhân để viết gia phả, lưu lại những tiểu sử đáng tin về danh nhân cho đời sau, đồng thời cũng để gián tiếp khuyên thanh niên nhớ công tổ tiên, giữ truyền thống dân tộc.
 
Phòng viết của ông treo đầy "phả trạng" các gia đình danh tiếng như họ Cao Xuân Dục, họ Trần Trọng Kim, Đông Hồ, Trương Vĩnh Ký; trên bàn, cả trên sàn nữa, ngổn ngang sách báo.

Hôm đó ông đến tặng tôi một bản khảo về Gia phả bìa bọc gấm và ngỏ ý lập Phả trạng cho gia đình tôi. Tôi cho ông Gia phả tôi đã viết, và thêm ít tài liệu nữa về đời viết văn của tôi.
 
Từ đó lâu lâu ông ghé chơi tôi. Con người đó cũng lạ: chịu sống nghèo, chỉ say mê gia phả, viết được Phả trạng cho gia đình nào, ông tốn rất nhiều công phu, nhưng mừng lắm, mừng hơn chính con cháu gia đình đó nữa. Ông kém tôi khoảng mười tuổi.
 
Ông Toan Ánh, quê ở Bắc Ninh, nhỏ hơn tôi vài tuổi, tôi quen từ mười lăm năm nay, có một đam mê khác: ghi chép phong tục Việt Nam. Ông đi khắp nơi từ Bắc vào Nam, đọc sách báo nào, thấy có tài liệu gì về phong tục cổ cũng ghi lại, đã cho ra được trên chục cuốn, có cuốn dày trên 400 trang; hiện ông còn non chục cuốn nữa đã đánh máy rồi, chưa in. Cần có người ghi chép thật nhiều như ông, rồi sau sẽ có người đọc lại, làm một công trình tổng hợp.
Cuộc đảo chính hụt năm 1960, ông suýt bị cách chức vì hăng hái hạ hình Ngô Đình Diệm trong sở sớm quá.

Bình Nguyên Lộc quê ở Tân Uyên, trước cách mạng tháng tám, làm sở kho bạc, viết rất nhiều truyện ngắn, một số nổi tiếng nhưng chuyện dài tầm thường; về già lại khảo cứu về nguồn gốc dân tộc mình, ngữ nguyên một số tiếng Việt, được hai bộ dày. Thật là một nhà văn cần cù. Muốn hiểu biết miền Nam thì phải đọc Hồ Biểu Chánh, Bình Nguyên Lộc, Sơn Nam.
 
Ông bạn già Đỗ Bằng Đoàn khảo về điển lễ, ca trù Việt Nam, đưa ra nhiều tài liệu quí; Giản Chi và tôi sốt sắng giới thiệu các độc giả mà rồi Tết nào ông cũng cho chúng tôi một gói Vương trà rất ngon. Chỉ người cổ mới có tình thanh nhã như vậy.
 
Ông Nguyễn Văn Xuân quê ở Quảng Nam, lần đầu tiên gặp ông tôi thấy ông phảng phất có vài nét của cụ Phan Sào Nam. Ông viết truyện dài, truyện ngắn (một truyện viết về nghệ thuật đúc cái phèng la của người Thượng, tôi rất thích nhưng quên mất nhan đề; sách dời đi dời lại ba bốn lần, không biết còn hay mất). Ông có tinh thần quốc gia, khảo về phong trào Duy Tân ở Trung, có một tập truyện về các nhà Nho kháng Pháp.
 
Ông Phan Du tôi chưa được gặp, ở Huế, có vài truyện ngắn tôi thích như Hai chậu lan tố tâm, sau viết biên khảo, gởi cho tôi cuốn Mộng kinh sư, nặng lòng hoài cổ.
 
Ông Võ Hồng ở Nha Trang, vừa dạy học vừa truyện dài, đa cảm, bút pháp bình dị, nhẹ nhàng, cảm động. Truyện ông dạt dào tình yêu thời cũ và quê hương xứ sở.
 
Trước ngày giải phóng độ nửa tháng, hoạ sĩ kiêm thi sĩ Tạ Tị cùng với Lê Ngộ Châu lại thăm tôi, vẽ cho tôi một bức chân dung trong năm phút theo lối riêng của ông (để in trên Bách Khoa số 20.4.75) và bảo: "Đây là bức chân dung cuối cùng tôi vẽ". Không ngờ lời đó đúng. Lần đó ông nhận xét về tôi: "Khi nào anh nói, tôi mới thấy mắt anh bừng lên".
 
Mới đây Kinh Dương Dương (Nguyễn Tuấn Khanh) bị bắt làm tù binh ở Kontum từ 1975, được thả, lại thăm tôi. Tôi mừng rằng cả thể chất và tinh thần không sút, can đảm lập lại cuộc đời. Nhà văn trẻ đó kiêm hoạ sĩ, là con của một bạn học của tôi ở trường Bưởi. Tôi còn giữ một bức hoạ một cảnh lăng ở Huế của anh. Màu và nét đều buồn như truyện ngắn của anh.

Nguyễn Đức Sơn - Trong khoảng 1960-70 ở Sài Gòn có bốn nhà văn thuộc loại "hiện tượng của thời đại": Nguyễn Hữu Ngư, Bùi Giáng (làm thơ khá hay) hơi khùng (Nguyễn thỉnh thoảng lên cơn, Bùi không), cả hai đều trạc năm mươi tuổi; và Phạm Công Thiện, Nguyễn Đức Sơn, đều trạt 35 tuổi, đều "mục hạ vô nhân": Thiện chửi thiên hạ mà có vẻ trí thức; Sơn tục tĩu, nhưng không ai ghét; Thiện viết về triết, nhai lại những ý chán chường khinh bạc của Phương Tây; Sơn làm thơ, viết truyện ngắn. Họ đều là những kẻ bất mãn. Thiện sau qua Pháp; Sơn thì sau ngày giải phóng, dắt vợ con lên Blao ở, khai thác một trại của nhà Là Bối, trồng lúa, trà, khoai mì, kiếm măng tre, sống y như người dân tộc, thỉnh thoảng về Sài Gòn, ăn bận lôi thôi, cũng đeo cái gùi trên lưng, lại thăm tôi cho một gói trà hoặc một nải chuối, một trái bí rợ. Lúc này đương đợi qua Pháp vì vợ là dân Pháp. Nguyễn Đức Sơn đã in cho tôi cuốn Những vấn đề của thời đại. Tôi không lấy tác quyền.
 
Bốn người đó tôi thỉnh thoảng còn tiếp xúc. Chỉ có hai học giả: Hồ Hữu Tường và Hà Việt Phương (tức Nguyễn Đức Quỳnh trong nhóm Hàn Thuyên trước kia), là có bạn muốn cho tôi gặp mà mấy lần tôi đều từ chối. Tính tình, chủ trương của họ đều khác tôi xa, biết nói chuyện gì với nhau? Hồ Hữu Tường phải đi trại cải tạo, năm 1980 được về, tới nhà thì mất.
 
Còn nhiều bạn nữa, đa số chỉ là những người tôi gặp đôi ba lần, nói với nhau dăm câu chuyện, mà tôi nhớ hơn những bạn trường Công Chánh, sống chung với tôi ba năm trong một phòng học, một phòng ngủ.

GIỚI BÁC SĨ
 
Một văn sĩ Pháp bảo có một sự tương thông tương cảm tự nhiên và mạnh mẽ giữa nhà văn và y sĩ. Lời đó đúng.
 
Từ hồi trẻ tôi đã biết rằng nhiều y sĩ thích viết văn, người thì bỏ nghề để chuyên viết, người thì vừa làm y sĩ vừa viết. Mãi đến khi tôi hơi có danh một chút mới thấy y sĩ thường có cảm tình với nhà văn, dĩ nhiên tôi không kể những y sĩ chỉ ham hốt bạc, không bao giờ đọc sách.
 
Tôi gặp một số bác sĩ niềm nở với tôi liền khi tôi xưng danh.
Người đầu tiên là bác sĩ Lê Văn Ngôn ở Chợ Lớn. Tôi nhờ ông khám phổi cho, ông chiếu điện, soi rất kĩ, cuối cùng bảo không sao, sẽ sống được tám chục tuổi.
 
Người thứ nhì là bác sĩ Huỳnh Kim Bửu ở đường Lê Thánh Tôn, gần chợ Saigòn. Tôi nhờ ông trị bệnh loét bao tử, ông chỉ sách cho tôi đọc về bệnh đó, và bây giờ sau hơn hai chục năm không gặp nhau mà ông còn hỏi thăm tôi.
 
Người thứ ba là bác sĩ Nguyễn Văn Tạo trị bệnh lao phổi cho tôi. Ông trị rất kĩ và thường chuyện trò với tôi.
 
Người thứ tư là bác sĩ Nguyễn Hữu Phiếm trị bệnh da cho tôi, rồi chúng tôi thành đôi bạn thân. Nhà ông ở gần chơ Trương Minh Giảng cách nhà tôi khoảng năm trăm thước, ông đi làm ở viện Pasteur về thường ghé tôi chơi. Ông viết nhiều bài báo về văn chương, xuất bản được ba bốn cuốn về y khoa, giáo dục; tôi đề Tựa hai cuốn. Có hồi tôi đau nặng, cứ hai bữa ông lại thăm một lần. Ông ham đọc sách, có gần đủ tác phẩm của A. Maurois.
Cuối tháng tư năm 1975, ông định ở lại, nhưng rồi vì tình con và cháu, ông theo họ qua Paris, ở bên đó hai năm thì mất vì bệnh ung thư máu (Leucémie). Bạn bè ai cũng tiếc.
 
Bác sĩ Trần Kim Bảng - cùng học với ông ở trường Bưởi rồi ở y khoa - cũng thích thơ văn, in được vài tập thơ, như trên tôi đã nói, rất thích cuốn Sống đẹp và nhân đọc cuốn đó mà tặng tôi một bài thơ. Ông hiện ở Paris, thường thư từ với tôi.
 
Bác sĩ Nguyễn Hữu Vị, chuyên về tim, rất có hiếu, tính tình rất dễ thương, ai gặp lần đầu cũng mến ông ngay. Ông tận tâm săn sóc cho vợ chồng tôi, coi tôi như người anh.
 
Tôi thỉnh thoảng vẫn nhớ bác sĩ Trần Ngọc Ninh, một bực thầy về giải phẫu, mà đồng thời là một học giả viết về Phật học, về ngữ pháp Việt. Ông đã qua Mĩ. Nhiều người tiếc và trọng. Chúng tôi chỉ thân với nhau vài năm trước ngày giải phóng.
 
Phải kể thêm hai bác sĩ trẻ: Đỗ Hồng Ngọc mà trong tập nầy tôi đã nhắc tới vài lần, và Nguyễn Chấn Hùng. Cả hai đều đọc nhiều sách của tôi và coi tôi như thầy học. Cả hai đều giúp tôi năm 1975 qua được một bệnh về thận. Bác sĩ Hùng đã xin phép tôi đánh máy bộ Kinh Dịch của tôi làm 6 bản để tặng bạn bè.

ĐỘC GIẢ
 
Số thanh niên không học tôi mà coi tôi như thầy, thỉnh thoảng viết thư cho tôi rất nhiều, tôi không thể giữ hết thư của họ được. Chỉ kể dưới đây một trường hợp đặc biệt.
 
Hồi tôi mới ở Long Xuyên lên Sài Gòn, ở đường Huỳnh Tịnh Của, một thanh niên xách một túi hột gà lại tặng tôi, nói là mới ở Cần Thơ lên, tên Ngô Thành Long, làm thượng sĩ trong quân đội. Hoạt bát, thành thực, ít học nhưng có khiếu về văn, nhờ giỏi tiếng Anh nên sau được giúp các tuỳ viên quân sự tại các toà đại sứ Việt Nam ở Đài Bắc và Vọng Các. Năm nào cũng gởi quà về cho tôi: trà, thuốc uống, hoa lan, tranh Trung Quốc, sách Anh. Năm 1979, cảnh nhà rất bi đát, tôi giúp đỡ được một chút, không thấm vào đâu (năm 1982 cả gia đình qua Úc).
 
Học trò cũ của tôi ở trường Thoại Ngọc Hầu đa số đều kính tôi, nhưng thân với tôi chỉ có vài ba người, mà thân nhất là cô Nguyễn Thị Huệ Hường, nhà ở xế cửa nhà tôi tại Long Xuyên. Có khiếu về văn chương nhưng không viết gì cả; nhà có nếp, có tư cách, được nhiều bạn mến, có hồi làm hiệu trưởng Trường Nữ Long Xuyên, coi vợ chồng tôi như cha mẹ, năm nào sinh nhật của nhà tôi, viết thư thăm nếu nhà tôi ở xa; nhớ cả ngày giờ sinh của ông Nhạc và bà Nhạc tôi nữa, tình thầy trò ngày xưa cũng không hơn. Vợ chồng con cái của cô đều đọc nhiều sách của tôi.
 
Từ năm 1975 thanh niên xin gặp mặt tôi có phần nhiều hơn thời trước. Tôi tiếc rằng không đủ sức khoẻ và thì giờ để tiếp hết được.
Lại cơ quan nào tôi cũng gặp một hai độc giả của tôi và ai cũng hỏi tôi còn viết gì không.
 
Cảm động nhất là một lần vào tiệm hớt tóc ở đường Trần Quang Diệu (Trương Tấn Bửu cũ) vào khoảng đầu năm 1980. Tôi thấy trong tiệm chỉ có một người thợ đương hớt cho một ông khách, một ông nữa khoảng ngoài lục tuần có vẻ một công chức hồi hưu ngồi đợi ở gần cửa. Tôi nói: "Thế này thì còn phải đợi lâu". Ông khách ngồi đợi đó liền bảo: "Tôi nhường cụ hớt trước đấy". Tôi đáp: "Tại sao cụ lại nhường cho tôi? Cụ cứ hớt trước đi chứ". Rồi tôi quay đi, đi lanh quanh một lát, khi trở lại thì ông khách đó đã đi rồi; tôi hỏi chủ tiệm, ông này đáp:
- Ông ấy nói cụ là nhà văn Nguyễn Hiến Lê, mà lại lớn tuổi hơn, nên ông ấy nhường cụ, bảo chiều sẽ hớt, không gấp. Vậy là cụ là Nguyễn Hiến Lê mà chúng cháu không biết. Chúng cháu đều đọc sách cụ.
 
Cả người thợ và người đương hớt cũng chào tôi, hỏi thăm tôi còn viết gì không. Mà người khách đó là một cán bộ ở Bắc vào. Ba tháng sau trở lại, chủ tiệm đã vượt biên.
 
Tôi bắt đầu có tiếng từ 1950, từ đó danh lên đều đều. Tôi vốn ít giao du, vào khoảng 1970-75, một số văn sĩ có tiếng tăm tôi không hề gặp lần nào như Nguyễn Mạnh Côn, Mai Thảo cũng gởi tác phẩm tặng; hoạ sĩ Tạ Tị, Thái Tuấn, nhiếp ảnh gia Trần Cao Lĩnh, Lê Thanh Thái lại nhà thăm, vẽ chân dung hoặc chụp hình cho. Sau ngày giải phóng danh tôi lan ra tới Bắc.
Nhưng mẹ tôi đã mất từ 1940, không được thấy kết quả công lao của người.

                                                                                   Nguyễn Hiến Lê
.............
 
1. Giống mai này gọi là Nam mai, thuộc loại mù u, đồn Cây Mai ở Chợ Lớn có mấy gốc, nay không biết còn không. Bà Đông Hồ 8 năm trước cho tôi một gốc nhỏ, trồng ở Long Xuyên nay đã cao non hai thước mà vẫn chưa có hoa)

Không có nhận xét nào:

Đăng nhận xét